MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những năm gần đây nghề kế toán chưa lúc nào có được vị thế và nỗi lo của các nhà quản lý doanh nghiệp về nguồn nhân lực, về chất lượng, về đội ngũ chuyên gia lại lớn như lúc này. Sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào bộ máy tô chức của chính doanh nghiệp đó, do đó, để nâng cao sức cạnh tranh cần có một bộ máy đủ mạnh cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp những thông tin chính xác, kịp thời cho việc ra quyết định trong sản xuất kinh doanh. Đây cũng chính là những thách thức đối với dịch vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu về kế toán [25] Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, đã và đang chuyển mình bằng việc thể chế hóa hệ thống pháp lý nhằm tạo điều kiện cho mọi tổ chức sẵn sàng hòa nhập.
Hệ thông pháp luật về kế toán của Việt Nam liên tục được phát triển và hoàn thiện. Cho đến nay chúng ta đã ban hành được các chuẩn mực kế toán phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. Các chuẩn mực này đã bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động của mọi loại hình doanh nghiệp, tạo điều kiện cho việc minh bạch số liệu, đồng thời cũng tạo môi trường đầu tư lành mạnh, từng bước thực hiện các cam kết hội nhập trong lĩnh vực kế toán theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết gia nhập [25]. Vi thé của Kế toán Việt Nam ngày càng được để cao khi Hiệp định chung về thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong lĩnh vực kế toán đã được kí kết giữa 10 nước ASEAN tai Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 10 vào tháng § năm 2011.
Qua đó, có thể khẳng định sứ mệnh và vai trò của lực lượng kế toán ngày càng được đề cao trong xã hội vì thế đòi hỏi của xã hội đối với người làm nghề kế toán càng lớn và đó cũng là trọng trách của hoạt động đào tạo kế toán trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay [25] Sinh viên là đối tượng trực tiếp của quá trình đào tạo và cũng là “sản phẩm chính” nên ý kiến phản hồi của sinh viên có một ý nghĩa nhất định. Đây là một kênh thông tin quan trọng và khách quan. Xuất phát từ những phân tích trên, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ đào tạo chuyên ngành kế toán tại các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Xuất phát từ thực tiễn đào tạo và nhu cầu nhằm nâng cao chất lượng đào.
tạo đối với ngành kế toán, nghiên cứu này được tiến hành với mục dich trong tâm là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ đào tạo chuyên ngành kế toán. Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu nhằm xây dựng nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ đào tạo chuyên ngành kế toán tại các trường cao đăng, đại học trên địa bàn thành phó Đà Nẵng. - Nghiên cứu này xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ đào tạo chuyên ngành kế toán tại các trường cao ding, dai hoc trên địa bàn thành phó Đà Nẵng. - Nghiên cứu đề xuất cho các trường cao đăng, đại học tại Đà Nẵng một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo chuyên ngành kế toán.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tô ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo ngành kế toán tại các trường cao ding, đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Phạm vi nghiên cứu: Các sinh viên năm cuối đang theo học và các sinh viên vừa mới tốt nghiệp tại các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố Da Ning. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Phương pháp định tính được sử dụng trong giai đoạn xây dựng bảng câu hỏi.
Phương pháp định lượng được sử dụng thông qua bảng câu hỏi thu thập thông tin, thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16. Thang đo được xây dựng dựa trên phương pháp đánh giá với hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, tiến hành phân tích nhân tố khẳng định CFA và sử dụng phương pháp mô hình cấu trúc SEM để kiêm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết đã xây dựng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Kết quả nghiên cứu là sự minh họa, cũng có thêm các lý thuyết về chất lượng dịch vụ, cũng như khẳng định xu thế cần thiết áp dụng một cách linh hoạt các mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ vào các hoạt động thuộc lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Ý nghĩa thực tiền của đề tài nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu này giúp cho các trường cao đẳng, đại học có đào tạo chuyên ngành kế toán trên địa bàn thành phố Đà Nẵng xác nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo chuyên ngành kế toán.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu này có thể giúp ích cho các khoa nói chung và khoa kế toán nói riêng của các trường làm tài liệu tham khảo trong. việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ đào tạo và đề xuất các giải pháp nhằm cải tiền chất lượng dịch vụ đào tạo. 'Về lĩnh vực nghiên cứu trong tương lai nó có thể có giá trị trong việc phát triển một một thang đo từ những quan điểm khác nhau chẳng hạn như quan điểm của giảng viên, phụ huynh hay nhà tuyển dụng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TO ANH HUONG TOI CHAT LUQNG DICH VU DAO TAO 1.
NHUNG VAN DE CHUNG VE CHAT LƯỢNG, DỊCH VỤ VÀ CHAT LUQNG DICH VU 1. Chất lượng Khái niệm chất lượng đã xuất hiện từ rất lâu, ngày nay được sử dụng phô biến và thông dụng trong cuộc sống cũng như trong sách báo hằng ngày. Bắt cứ ở đâu hay trong tài liệu nào chúng ta đều thấy thuật ngữ chất lượng. Tuy nhiên, hiểu thế nào là chất lượng thì không đơn giản [33].
“Chất lượng” cũng như “tự do” hay “công lý” đều là một khái niệm phức tạp mà không phải trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống kinh tế, kỹ thuật và xã hội cũng có thẻ dễ dàng lượng hóa [2]. Do tính phức tạp nên hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng. Mỗi khái niệm đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế [33]. Dưới đây là một số cách hiểu về khái niệm chất lượng: Theo Juran (1988) “ Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu”.
Theo Ball (1985); HMI (1989); Reynolds (1986); và Crawford (1991) “chất lượng là sự phù hợp cho mục đích”. Chất lượng được đánh giá về mức độ mà một sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng mục đích đề ra. Theo Feigenbaum “Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa vào kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không được nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan và mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh” [33]. Theo Ishikawa (1985) “Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường”.
Khái niệm dịch vụ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ: Theo Từ điển Tiếng Việt Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [36]. Zeithaml và Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler và Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho. khách hàng nhằm thiết lập, củng có và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng [9].
Tóm lại, có nhiều khái niệm dịch vụ được phát biểu dưới các góc độ khác nhau nhưng nhìn chung dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng theo cách mà khách hàng mong muốn. Hầu hết các dịch vụ đều được tính theo gói. Gói sản phẩm dịch vụ thường bao gồm 3 yếu tố: hàng hóa mang tính vật chất (hàng hóa tiện ích), dịch vụ nổi (lợi ích trực tiếp), dịch vụ ẩn (những lợi ích mang tính tâm lý do khách hàng cảm nhận). Khi cung cấp dịch vụ cần chú ý phối hợp cả 3 yếu tố này đẻ dịch vụ được thực hiện với hiệu quả cao.
Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa thông thường như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không. thể tách rời và tính không thể cất trữ. Do đó, dịch vụ rất khó định lượng và không thể nhìn thấy bằng mắt thường được. Tính vô hình: Không giống những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng.
Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các đấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Tính không đồng nhất: Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Điều này có thể dẫn đến những gì công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu dùng nhận được.
Tĩnh không thể tách rời: Thê hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Điều này khác với hàng hóa vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối qua các cấp trung gian sau đó mới tới tiêu dùng.