Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, mức thu nhập của người lao động luôn là yếu tố then chốt quyết định chất lượng cuộc sống, khả năng tái tạo sức lao động và động lực nâng cao năng suất. Theo các quan điểm kinh tế học thực tiễn, việc thiết lập chính sách tiền lương và phân phối thu nhập hợp lý không chỉ bảo đảm an sinh xã hội mà còn đóng vai trò kích cầu tiêu dùng nội địa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Ngành công nghiệp dệt may là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và tiên phong trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam. Toàn ngành đóng góp khoảng 10% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, tạo việc làm cho khoảng 2,7 triệu lao động (chiếm 25% lao động trong toàn khu vực công nghiệp và 5% tổng lực lượng lao động cả nước). Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt trên 36 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm 2017. Mặc dù đạt quy mô xuất khẩu lớn, ngành dệt may Việt Nam từ lâu vẫn bị nhìn nhận là ngành thâm dụng lao động, tạo ra giá trị gia tăng thấp và mức thu nhập của công nhân còn hạn chế. Bên cạnh đó, năng suất lao động ngành dệt may trong nước còn thấp so với các quốc gia trong khu vực, khiến chi phí sản phẩm chịu áp lực lớn khi mức lương tối thiểu liên tục tăng 10 – 12%/năm.
Đề tài "Các nhân tố tác động đến thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp dệt may" do sinh viên Nguyễn Thị Trà My (Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đoàn Việt Dũng nhằm phân tích định lượng các nhân tố tác động đến thu nhập lao động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định và lượng hóa cụ thể các nhân tố có ảnh hưởng đến thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp dệt may Việt Nam.
- Xây dựng khung lý thuyết và mô hình kinh tế lượng kiểm chứng mức độ tác động của các nhân tố.
- Đưa ra các kết luận khoa học và đề xuất chính sách nhằm cải thiện thu nhập và đời sống cho người lao động ngành dệt may.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi chính: Các nhân tố nào có tác động đến thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp dệt may ở Việt Nam? Các nhân tố đó tác động như thế nào đến thu nhập của lao động?
- Câu hỏi phụ: Thực trạng phát triển của ngành dệt may như thế nào, có ảnh hưởng đến thu nhập của lao động không? Cần có những giải pháp nào để cải thiện thu nhập của lao động?
Giả thuyết nghiên cứu:
- H1: Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành dệt may có tác động tích cực đến thu nhập của lao động trong ngành.
- H2: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dệt may tác động tích cực đến thu nhập của lao động.
- H3: Năng suất lao động càng cao giúp lao động cải thiện và gia tăng thu nhập.
- H4: Tỷ lệ lao động nữ tăng có liên quan tích cực đến thu nhập của lao động trong ngành.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thu nhập của người lao động trong ngành công nghiệp dệt may Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2000 – 2018.
- Phạm vi nội dung: Đánh giá thực trạng phát triển ngành và ứng dụng mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian để xác định tác động của các yếu tố vĩ mô và đặc thù ngành tới thu nhập bình quân của lao động.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các học thuyết kinh tế học cổ điển và hiện đại về tiền lương và thị trường lao động:
- Lý thuyết nguồn gốc thu nhập: Quan điểm của Adam Smith (Sự giàu có của các quốc gia) xác định tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập. Karl Marx (Phê phán cương lĩnh Gôta) chỉ rõ cơ cấu giá trị sản phẩm xã hội gồm ba thành phần $c + v + m$, trong đó $v$ là phần thu nhập của người lao động. Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus định nghĩa thu nhập là luồng tiền lương, tiền lãi, cổ tức và các nguồn thu khác nhận được trong một thời kỳ.
- Lý thuyết tiền lương và thị trường lao động: Theo Robert Pindyck và Daniel L. Rubinfeld, tiền lương hình thành dựa trên điểm cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị trường cạnh tranh; khi thị trường không hoàn hảo, tiền lương chịu tác động bởi luật tiền lương tối thiểu, vai trò công đoàn và lý thuyết tiền lương hiệu quả.
- Lý thuyết vốn nhân lực và năng suất: N. Gregory Mankiw khẳng định sự khác biệt về thu nhập bắt nguồn từ khác biệt về năng suất lao động. Gary Becker nhấn mạnh việc trả công gắn liền với năng suất cá nhân và giá trị công việc thông qua đầu tư vào vốn con người. Jacob Mincer đưa ra hàm thu nhập biểu thị mối quan hệ phụ thuộc giữa số năm đi học, kinh nghiệm làm việc và mức thu nhập cá nhân.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp thực trạng với phương pháp kinh tế lượng định lượng chuỗi thời gian thông qua mô hình Véc-tơ tự hồi quy VAR (Vector Autoregression) do Christopher Sims phát triển.
Quy trình ước lượng và kiểm định mô hình VAR:
- Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu: Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF).
- Lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình: Dựa trên các tiêu chuẩn thông tin AIC (Akaike Information Criterion) và SIC/SC (Schwarz Information Criterion).
- Kiểm định nhân quả Granger: Đánh giá quan hệ tương tác và chiều dự báo giữa các biến số trong hệ phương trình.
- Kiểm tra tính ổn định của mô hình: Thông qua cấu trúc đa thức đặc trưng (AR Characteristic Polynomial).
- Phân tích hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai (Variance Decomposition): Đo lường phản ứng động của thu nhập trước các cú sốc và tỷ trọng đóng góp của từng biến số vào phương sai sai số dự báo của thu nhập qua thời gian.
Mô hình thực nghiệm:
$$\text{Ln}(INC)_t = \beta_0 + \beta_1 \text{Ln}(FDI)_t + \beta_2 \text{Ln}(EXPORT)_t + \beta_3 \text{Ln}(W)_t + \beta_4 FEMALE_t + e_t$$
Trong đó:
INC: Thu nhập bình quân của người lao động (người/tháng).
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may.
EXPORT: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may.
W: Năng suất lao động (xác định bằng tổng kim ngạch xuất khẩu chia cho tổng số lao động ngành).
FEMALE: Tỷ trọng lao động nữ trên tổng số lao động ngành (%).
Nguồn số liệu nghiên cứu được thu thập từ Niên giám thống kê, cơ sở dữ liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2000 – 2018, số liệu của Tổng cục Hải quan và Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương I tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản về thu nhập, tiền lương và cơ chế hình thành thu nhập trong nền kinh tế thị trường. Tác giả phân tích các nhân tố cốt lõi tác động đến thu nhập bao gồm: năng suất lao động, vốn đầu tư FDI, kim ngạch xuất khẩu và yếu tố giới tính (đặc biệt là tỷ trọng lao động nữ trong các ngành công nghiệp nhẹ).
Phần tổng quan nghiên cứu hệ thống hóa các công trình quốc tế tiêu biểu (Mincer, 1974; Becker, 1993; Bhattarai & Wisniewski, 2002; Zhou, 2002; Mankiw, 2003; Gannon & Plasman, 2007; Dohmen & Lehmann, 2008; Borjas, 2013; Polaski, 2014) và các công trình trong nước (Nguyễn Quốc Nghi & Bùi Văn Trinh, 2010; Phan Thị Hữu Nghĩa, 2011; Phạm Lê Thông, 2012; Bùi Thị Thu Minh & Lê Nguyễn Đoan Khôi, 2014; Chử Thị Lân & Quyền Đình Hà, 2014; Phạm Thị Phong Lan & Trương Hoàng Minh, 2014; Đinh Phi Hổ, 2015; Phạm Thị Thu Lan, 2016; Trương Vĩnh Phước, 2017; Viện Công nhân và Công đoàn, 2018; Đỗ Văn Quân, 2019). Từ việc phân tích các khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác lập sự cần thiết của việc đánh giá tác động đồng thời của các biến vĩ mô ngành tới thu nhập lao động dệt may Việt Nam bằng mô hình chuỗi thời gian.
Chương II: Thực trạng ngành dệt may Việt Nam
Chương II phác họa bức tranh toàn diện về kinh tế Việt Nam và ngành dệt may giai đoạn 2015 – 2019:
- Tăng trưởng kinh tế vĩ mô: Giai đoạn 2015 – 2019, kinh tế duy trì tăng trưởng cao (năm 2018 đạt 7,08%; năm 2019 đạt khoảng 7%). Năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2019 đạt 110,4 triệu đồng/lao động. Tiền lương cơ bản trung bình năm 2018 của lao động làm đủ giờ là 4,67 triệu đồng/tháng (tăng 4,2% so với 2017). Quý I/2020, GDP tăng trưởng 3,8% do ảnh hưởng ban đầu của đại dịch Covid-19.
- Lịch sử và vị thế ngành: Ngành dệt may có lịch sử phát triển lâu đời, chuyển mình mạnh mẽ từ sau đổi mới. Từ 1.031 doanh nghiệp năm 2001, đến năm 2016 đã có khoảng 8.000 doanh nghiệp, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 17%/năm giai đoạn 1998 – 2018.
- Thực trạng thu nhập: Năm 2018, mức lương cơ bản thấp nhất của lao động dệt may là 4,225 triệu đồng/tháng; thu nhập trung bình đạt 5,53 triệu đồng/tháng (tăng 1,4% so với 2017), trong đó làm thêm giờ và phụ cấp chiếm 18%. 6 tháng đầu năm 2019, lương cơ bản đạt 248 USD/tháng (tương đương 5,7 triệu đồng/tháng). Năng suất lao động dệt may Việt Nam vẫn ở mức thấp so với khu vực, tạo sức ép chi phí khi lương tối thiểu tăng 10 – 12%/năm.
- Kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu thị trường: Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng liên tục: năm 2015 đạt 25,4 tỷ USD; năm 2016 đạt 26,8 tỷ USD; năm 2017 đạt 29,6 tỷ USD; năm 2018 đạt 36 tỷ USD (+16,6%). Cơ cấu xuất khẩu năm 2018 gồm: hàng may mặc 28,78 tỷ USD (+14,45%), xơ sợi 3,95 tỷ USD (+9,9%), vải 1,66 tỷ USD (+25,5%), phụ liệu 1,23 tỷ USD (+14,59%), vải không dệt 528 triệu USD (+15,54%), thặng dư ngành đạt 17,86 tỷ USD. Năm 2019, xuất siêu đạt 16,62 tỷ USD. Thị trường xuất khẩu lớn nhất năm 2018 là Mỹ (14 tỷ USD, chiếm 46,7%; năm 2019 đạt 15,2 tỷ USD, chiếm 38,97%), theo sau là EU (2018: 5,9 tỷ USD; 2019: 4,4 tỷ USD), Nhật Bản (2018: 4 tỷ USD; 2019: 4,2 tỷ USD), Trung Quốc (4 tỷ USD), Hàn Quốc (3,8 tỷ USD).
- Tình hình thu hút FDI: Giai đoạn 2015 – 2019 ghi nhận dòng vốn FDI lớn: năm 2015 đạt mức kỷ lục 4,135 tỷ USD (189 dự án); năm 2016 có 234 dự án (2,573 tỷ USD); năm 2017 có 177 dự án (1,714 tỷ USD); năm 2018 có 196 dự án (2,027 tỷ USD); 10 tháng năm 2019 đạt 164 dự án (1,349 tỷ USD). Đối tác FDI lớn nhất là Hàn Quốc (4,798 tỷ USD / 464 dự án), tiếp theo là Đài Loan (~3 tỷ USD / 132 dự án), Hồng Kông (2,395 tỷ USD / 147 dự án), Trung Quốc (2,116 tỷ USD / 197 dự án), British Virgin Islands (1,607 tỷ USD / 70 dự án).
- Thách thức nội tại: Trình độ lao động dệt may còn thấp (lao động phổ thông chiếm 76%; sơ và trung cấp chiếm 17,3%; cao đẳng, đại học và trên đại học chỉ chiếm 6,8%). Công nghệ cao chỉ chiếm 20%, 70% là công nghệ trung bình, 10% công nghệ thấp. Ngành phụ thuộc 80% vải nhập khẩu (gần 50% từ Trung Quốc, 18% Hàn Quốc, 15% Đài Loan), đối mặt rào cản quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt từ CPTPP ("từ sợi trở đi") và EVFTA ("từ vải trở đi").
Chương III: Phương pháp nghiên cứu và kết quả thực nghiệm
Chương III trình bày chi tiết các bước xử lý số liệu và kết quả ước lượng từ mô hình VAR với mẫu 19 quan sát (2000 – 2018). Tỷ trọng lao động nữ bình quân (FEMALE) đạt 79,39%.
Kết quả kiểm định kinh tế lượng:
- Kiểm định tính dừng ADF: Chuỗi dữ liệu mức gốc của các biến đều không dừng, nhưng sai phân bậc 1 của chúng (
DLNINC, DLNFDI, DLNEXPORT, DLNW, DFEMALE) đều dừng ở mức ý nghĩa thống kê 1%, 5% và 10% (các chuỗi đều tích hợp bậc 1, $I(1)$).
- Lựa chọn độ trễ: Các tiêu chuẩn AIC và SIC cùng kiểm định loại trừ độ trễ đều chỉ ra độ trễ tối ưu cho hệ phương trình là 2, thiết lập mô hình VAR(2).
- Kiểm định tính ổn định: Tất cả các giá trị riêng nghịch đảo của đa thức đặc trưng AR đều nằm trong đường tròn đơn vị (mô đun < 1), khẳng định mô hình VAR(2) ổn định và có giá trị dự báo.
- Kiểm định nhân quả Granger: Biến
DFEMALE và DLNEXPORT có quan hệ nhân quả hai chiều ở mức ý nghĩa 5%. Biến DLNINC là nguyên nhân gây ra sự thay đổi của DFEMALE ở mức ý nghĩa 1%.
- Phân tích Hàm phản ứng đẩy (IRF):
- Cú sốc từ
FDI tác động tích cực đến thu nhập trong các năm thứ 2, 6, 7 và tăng trở lại ở năm thứ 10.
- Cú sốc từ
EXPORT tác động âm trong các năm 4, 5, 8, 9 nhưng thúc đẩy thu nhập tăng mạnh ở năm thứ 6, 7 và từ năm thứ 10 trở đi.
- Cú sốc từ Năng suất lao động (
W) làm giảm thu nhập giai đoạn đầu (năm 1 – 5), sau đó thúc đẩy tăng trở lại đến năm thứ 7 và có xu hướng tăng vững từ năm thứ 9 trở đi.
- Cú sốc từ Tỷ trọng lao động nữ (
FEMALE) tác động âm trong 3 năm đầu, phục hồi ở năm thứ 5 và có xu hướng giảm dần sau năm thứ 9.
- Phân rã phương sai (Variance Decomposition):
- Biến động của
FDI giai đoạn đầu giải thích không đáng kể, nhưng giai đoạn sau giải thích hơn 30% sự biến thiên của thu nhập.
EXPORT giải thích khoảng 28% biến động thu nhập ở giai đoạn đầu và tăng lên 42% ở giai đoạn cuối.
W duy trì mức độ giải thích ổn định từ 37% đến 39% sự biến động thu nhập.
FEMALE duy trì mức giải thích khoảng 55% sự thay đổi thu nhập ở các giai đoạn sau.
Chương IV: Đề xuất và kiến nghị chính sách
Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất 4 định hướng chiến lược và 4 nhóm giải pháp cụ thể:
Định hướng phát triển:
- Đẩy mạnh nâng cao năng suất lao động tại các doanh nghiệp FDI nhằm tối ưu hóa giá trị sản phẩm.
- Đa dạng hóa quy mô, loại hình doanh nghiệp và tập trung thu hút dòng vốn FDI có chất lượng cao.
- Cân bằng giữa khai thác thị trường xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa (hưởng ứng cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam").
- Phát triển mạnh các ngành công nghiệp hỗ trợ, mở rộng vùng nguyên liệu trong nước (bông, lanh, sợi) nhằm giảm nhập siêu nguyên phụ liệu và đáp ứng quy tắc xuất xứ FTA.
Kiến nghị giải pháp chính sách:
- Đối với công nhân trực tiếp: Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ, thu hút người học vào ngành dệt may nhằm khắc phục tình trạng "thừa thầy thiếu thợ"; hiện đại hóa cơ sở dạy nghề theo dây chuyền công nghệ mới.
- Đối với lực lượng công nhân lành nghề: Tăng cường đào tạo nghề tại khu vực nông thôn để tận dụng nguồn nhân công dồi dào; định kỳ tổ chức các cuộc thi thợ giỏi; xây dựng chương trình đào tạo nghề quốc gia có sự tham gia của chuyên gia nước ngoài; cải thiện môi trường và chính sách đãi ngộ để ngăn ngừa tình trạng chảy máu chất xám.
- Đối với cán bộ quản lý: Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp và các trường đại học đào tạo chuyên ngành quản lý gắn liền với thực tiễn sản xuất; tổ chức sát hạch nghiệp vụ và giao lưu học tập kinh nghiệm quản trị.
- Đối với cán bộ nghiên cứu khoa học và thiết kế: Tập trung đào tạo chuyên gia thiết kế mẫu mốt và nghiên cứu thị trường quốc tế nhằm chuyển dịch phương thức sản xuất từ gia công đơn thuần sang các phương thức tạo giá trị gia tăng cao (tự thiết kế và sở hữu thương hiệu); đầu tư xúc tiến thương mại quốc tế.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa thành công mối quan hệ giữa các nhân tố vĩ mô ngành với thu nhập của lao động ngành dệt may Việt Nam.
| Tên biến |
Ký hiệu |
Ý nghĩa kinh tế |
Kỳ vọng dấu |
Kết quả kiểm định VAR(2) & Phân rã phương sai |
| Thu nhập bình quân |
INC |
Thu nhập bình quân lao động (người/tháng) |
Biến phụ thuộc |
Phản ứng động trước các cú sốc vĩ mô của ngành |
| Vốn đầu tư FDI |
FDI |
Vốn FDI đăng ký vào ngành dệt may |
$(+)$ |
Tác động tích cực trung và dài hạn; giải thích >30% biến động thu nhập ở giai đoạn sau |
| Kim ngạch xuất khẩu |
EXPORT |
Giá trị xuất khẩu dệt may toàn ngành |
$(+)$ |
Tác động cùng chiều mạnh mẽ ở giai đoạn dài hạn; giải thích 28% – 42% biến động thu nhập |
| Năng suất lao động |
W |
Kim ngạch xuất khẩu / Tổng lao động ngành |
$(+)$ |
Tác động hai chiều với thu nhập; duy trì mức giải thích ổn định 37% – 39% biến động thu nhập |
| Tỷ trọng lao động nữ |
FEMALE |
Tỷ lệ lao động nữ / Tổng lao động ngành (%) |
$(+)$ |
Có quan hệ nhân quả hai chiều với xuất khẩu; giải thích ~55% biến động thu nhập ở các giai đoạn sau |
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt học thuật: Ứng dụng mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian VAR(2) để kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu, năng suất và cơ cấu lao động nữ đối với thu nhập lao động dệt may tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2018.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể về cơ cấu tiền lương (5,53 triệu đồng/tháng năm 2018, phụ cấp/làm thêm chiếm 18%), tình trạng nhập khẩu 80% vải, cùng hệ thống kiến nghị đồng bộ giúp nâng cao giá trị gia tăng, đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ của CPTPP và EVFTA nhằm tăng thu nhập bền vững cho người lao động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Bộ số liệu chuỗi thời gian sử dụng gồm 19 quan sát (giai đoạn 2000 – 2018), quy mô mẫu ở mức vừa phải. Do tính chất dữ liệu tổng hợp vĩ mô ngành, mô hình chưa tích hợp được các biến số vi mô cá nhân chi tiết như số năm kinh nghiệm, trình độ học vấn cụ thể từng bậc học, tình trạng hợp đồng lao động của từng người lao động.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng chuỗi số liệu thời gian sang các năm tiếp theo (đặc biệt là giai đoạn thực thi đầy đủ EVFTA và hậu đại dịch Covid-19); kết hợp mô hình VECM để phân tích đồng liên kết dài hạn, hoặc sử dụng dữ liệu bảng (Panel Data) cấp doanh nghiệp/người lao động để phân tích sâu các nhân tố vi mô.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Kinh tế học, Kinh tế lao động, Kinh tế phát triển, Quản trị nhân lực có thể tham khảo quy trình thực hiện nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng mô hình VAR trên chuỗi thời gian kinh tế.
- Nhà nghiên cứu và giảng viên: Khung phân tích lý thuyết tiền lương tổng hợp và phương pháp phân tích hàm phản ứng đẩy (IRF), phân rã phương sai (Variance Decomposition).
- Cán bộ quản lý, hiệp hội ngành nghề và nhà hoạch định chính sách: Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), cơ quan quản lý lao động và thương mại trong việc đánh giá thách thức quy tắc xuất xứ, tái cấu trúc nguồn nguyên phụ liệu và xây dựng chính sách tiền lương gắn liền với năng suất lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình kinh tế lượng nào và kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu ra sao?
Khóa luận sử dụng mô hình Véc-tơ tự hồi quy VAR (Vector Autoregression). Kiểm định nghiệm đơn vị ADF cho thấy tất cả các chuỗi số liệu (DLNINC, DLNFDI, DLNEXPORT, DLNW, DFEMALE) đều đạt tính dừng ở sai phân bậc 1 ($I(1)$). Tiêu chuẩn AIC và SIC cùng xác định độ trễ tối ưu là 2, thiết lập mô hình VAR(2). Đa thức đặc trưng AR có tất cả các nghiệm nghịch đảo nằm bên trong đường tròn đơn vị, chứng minh mô hình ổn định.
2. Kiểm định nhân quả Granger trong khóa luận chỉ ra các mối liên hệ nào?
Kết quả kiểm định Granger chỉ ra:
- Biến tỷ trọng lao động nữ (
DFEMALE) và kim ngạch xuất khẩu (DLNEXPORT) có mối quan hệ nhân quả hai chiều ở mức ý nghĩa thống kê 5%.
- Biến thu nhập bình quân (
DLNINC) là nguyên nhân nhân quả Granger dẫn đến sự thay đổi của tỷ trọng lao động nữ (DFEMALE) ở mức ý nghĩa 1%.
3. Mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của lao động ngành dệt may năm 2018 được ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được trích dẫn trong khóa luận, năm 2018 mức lương cơ bản thấp nhất của lao động dệt may là 4,225 triệu đồng/tháng. Thu nhập trung bình đạt khoảng 5,53 triệu đồng/tháng (tăng 1,4% so với năm 2017), trong đó các khoản làm thêm giờ và trợ cấp chiếm khoảng 18% tổng thu nhập. Đến 6 tháng đầu năm 2019, lương cơ bản đạt 248 USD/tháng (khoảng 5,7 triệu đồng/tháng).
4. Quy tắc xuất xứ trong các hiệp định CPTPP và EVFTA đặt ra thách thức cụ thể gì cho dệt may Việt Nam?
Hiệp định EVFTA áp dụng quy tắc xuất xứ "từ vải trở đi" (vải phải được dệt và cắt may tại Việt Nam hoặc EU, ngoại trừ vải nhập từ Hàn Quốc). Hiệp định CPTPP áp dụng quy tắc nghiêm ngặt 3 công đoạn "từ sợi trở đi" (kéo sợi, dệt nhuộm hoàn thiện vải và cắt may đều phải thực hiện trong các nước thành viên). Trong khi đó, Việt Nam phải nhập khẩu tới 80% vải, trong đó gần 50% nhập từ Trung Quốc và 15% từ Đài Loan (hai đối tác không thuộc CPTPP), gây khó khăn lớn trong việc hưởng thuế quan ưu đãi.
5. Cơ cấu đối tác FDI đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam có đặc điểm gì nổi bật?
Theo số liệu của VITAS trong khóa luận, Hàn Quốc là quốc gia dẫn đầu dòng vốn FDI vào dệt may Việt Nam với 4,798 tỷ USD (464 dự án). Tiếp theo là Đài Loan (~3 tỷ USD / 132 dự án), Hồng Kông (2,395 tỷ USD / 147 dự án), Trung Quốc (2,116 tỷ USD / 197 dự án), British Virgin Islands (1,607 tỷ USD / 70 dự án), Singapore (823 triệu USD / 18 dự án), Samoa (792 triệu USD / 44 dự án) và Thổ Nhĩ Kỳ (660 triệu USD / 1 dự án).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Trà My đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về tiền lương, năng suất và thị trường lao động, đồng thời phân tích sâu sắc thực trạng ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2000 – 2018. Bằng việc ứng dụng mô hình kinh tế lượng VAR(2), công trình đã xác nhận và định lượng mức độ tác động tích cực của vốn đầu tư FDI, kim ngạch xuất khẩu, năng suất lao động và tỷ trọng lao động nữ tới thu nhập bình quân của công nhân. Các đề xuất giải pháp về đào tạo nhân lực đa cấp bậc, phát triển công nghiệp hỗ trợ nguyên phụ liệu và chuyển đổi mô hình sản xuất mang lại giá trị tham khảo thực tiễn thiết thực cho chiến lược nâng cao đời sống người lao động và phát triển bền vững ngành dệt may Việt Nam.