CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác trình bày lý do chọn đề tài dựa trên thực tiễn và khoa học. Đồng thời, phát triển mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và cuối cùng là thể hiện bao quát kết cấu của khóa luận. Từ đó, có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu. để thuận lợi nghiên cứu cho các chương tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN Chương hai được cấu thành từ 3 phần chính. Đầu tiên là các khái niệm. Tiếp theo trình bày về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng và cuối cùng là tổng quan về các nghiên cứu có liên quan. Ví điện tử Tại Điều 2 Thông tư số 39/2014/TT-NHNN thì dịch vụ ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ tạo lập trên vật mang tin (như chíp điện tử, sim điện thoại di động, máy tính.), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ VĐT theo tỉ lệ 1:1 và được sử dụng làm phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt” (NHNN, 2023).
Gần đây, định nghĩa lại ví điện tử là một loại tiền điện tử do tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phát hành và được định danh khách hàng thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng mở tại ngân hàng (NHNN, 2019). Theo Upadhyaya (2012), ví điện tử đóng vai trò như một chiếc ví đựng tiền từ tài khoản ngân hàng được tích hợp trên điện thoại di động, có chức năng giao dịch và thanh toán trực tuyến. Alaeddin và cộng sự (2018) cho rằng, ý tưởng về ví điện tử được hình thành trong những năm về trước, khi người ta chuyển đổi tiền giấy sang thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng như một cách bảo mật thanh toán dựa trên hình thức thanh toán bằng thẻ 10 thông minh với các thành viên của sáu tổ chức gồm American Express, Discover, JCB, Mastercard, Union Pay và Visa. Ý định sử dụng Ý định sử dụng là tiêu chí cá nhân đánh giá khả năng thực hiện hành vi của mình trong tương lai, tạo động lực và thúc đẩy cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi (Ajzen, 1991).
Ví điện tử còn được định nghĩa là một quá trình hành động mà một các nhân muốn đạt được (Zhao & Othman, 2010). Ngoài ra ý định sử dụng cũng là yếu tố dùng để dự đoán hành vi thực tế trong phần lớn các nghiên cứu về sử dụng công nghệ (Irani, Dwivedi, & Williams, 2009). Vì vậy thấu hiểu được ý định sử dụng của khách hàng đóng vai trò quan trọng bởi hành vi của khách hàng có thể được dự đoán bởi ý định của họ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ. Trong nghiên cứu này, ý định sử dụng VĐT còn là động lực dẫn đến hành vi sử dụng VĐT trong tương lai.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ 2. Thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý (TRA) được Fishbein và Ajzen phát triển vào năm 1975 và cho rằng “nhân tố quan trọng nhất quyết định hành vi của cá nhân là quyết định hành vi chứ không phải thái độ của họ. Quyết định hành vi của một cá nhân là sự kết hợp của Thái độ và Chuẩn chủ quan của con người như phong cách sống, kinh nghiệm, trình độ, tuổi tác, giới tính”. Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Ajzen và Fishbein (1975) 11 Thái độ thể hiện mức độ thái độ mà một cá nhân cảm thấy thuận lợi hoặc bất lợi để đánh giá hành vi.
Quy chuẩn chủ quan là nhận thức cá nhân có nên thực hiện hành vi hay không dưới áp lực của xã hội. Ý định hành vi nhằm đo lường khả năng sẵn sàng thực hiện hành vi. Thuyết này chỉ dựa vào các giả định chung đề cập đến hành vi của cá nhân khi bị kiểm soát chặt chẽ từ suy nghĩ và lý trí chứ không thể giải thích hoặc bao quát lý thuyết đối với những hành vi không tuân theo lý trí như cảm xúc và thói quen. Thuyết hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behaviour) Lý thuyết hành vi dự định (TPB) được phát triển bởi Ajzen (1991) được bổ sung thêm Nhận thức kiểm soát hành vi từ thuyết hành động hợp lý (TRA) sau khi phát hiện ra nhân tố này có tác động đến ý định hành vi nhằm làm rõ hơn mối quan hệ giữa ý định hành vi và thái độ hành vi.
Mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen 1991 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM –Technology Acceptance Model) Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) được xây dựng bởi Fred Davis và Richard Bagozzi nhằm dự đoán và đi sâu hơn vào giải thích sự chấp nhận và sử dụng 12 công nghệ của người dùng. Tại đây xuất hiện hai biến mới là cảm nhận hữu ích và cảm nhận dễ sử dụng có tác động đến thái độ của người tiêu dùng. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Nguồn: Davis và ctg (1989) Theo Venkatesh (2003) cho rằng mô hình TAM còn tồn tại một số hạn chế nhất định như độ giải thích của mô hình mang giá trị không cao vì nó không giải thích đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận công nghệ và mối tương quan giữa các nhân tố trong mô hình bị đối lập ở các nghiên cứu với lĩnh vực và đối tượng khác nhau.
Hơn nữa giả thuyết về mối tương quan giữa các nhân tố chính trong mô hình không phải lúc nào cũng giống như mô hình TAM. Thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT – Unified Theory of Acceptance and Use Technology) Thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) được Venkatesh và ctg (2003) phát triển ở lĩnh vực tâm lý học và quản lý nhằm kiểm tra ý định chấp nhận và sử dụng công nghệ mới. UTAUT được kết hợp từ những nhân tố có tác động mạnh mẽ nhất từ các mô hình trước đó như: TAM, TPB, TRA, MM,.Theo Thomas và ctg (2013), bốn thành phần chính cấu thành nên mô hình UTAUT bao gồm hiệu suất kỳ vọng, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi là những yếu tố quyết định đến hành vi chấp nhận sử dụng của người dùng. hơn nữa giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm và sự tự nguyện là các nhân tố của người kiểm duyệt để hiểu được hành vi và sự chấp nhận sử dụng của người dùng.
Nhờ những lý thuyết này, việc nghiên cứu trở nên dễ dàng hơn. Thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Nguồn: Venkatesh và ctg (2003) 2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2. Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Amin (2009) về các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận sử dụng ví điện tử ở Malaysia.
Áp dụng mở rộng khả năng ứng dụng mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) bằng cách thêm ba nhân tố là nhận thức tính hữu ích, tính dễ sử dụng và nhận thức độ tin cậy. Kết quả cho thấy cả ba yếu tố đều là những nhân tố then chốt đến việc chấp nhận sử dụng VĐT. Theo Trivedi (2016) tại Ấn Độ áp dụng mô hình TAM thực hiện nghiên cứu Các yếu tố quyết định việc chấp nhận ví điện tử của Gen Y (những người sinh từ năm 1980) với 336 mẫu quan sát. Kết quả cho thấy cảm nhận dễ sử dụng và tính hữu ích đóng vai trò then chốt quyết định đến việc chấp nhận sử dụng VĐT của Gen Y tại Ấn 14 Độ.
Kết quả giống với nghiên cứu Venkatesh và Davis (1996) hay Malik và ctg (2013). Nghiên cứu của Rathore (2016) đã khám phá ra sự khác nhau giữa các nhân tố ảnh hưởng đến người dùng trong việc áp dụng ví điện tử và những rủi ro, thách thức khác nhau mà người dùng phải đối mặt. Bằng việc khảo sát 150 người dùng VĐT và sử dụng phương pháp ANOVA. Kết quả là ba yếu tố là sự thuận tiện trong việc mua sản phẩm trực tuyến, lòng trung thành thương hiệu và tính hữu dụng đóng vai trò then chốt đến ý định sử dụng của khách hàng đối với VĐT tại Ấn Độ.
Ngoài ra, nghiên cứu của Jadav (2017) với dữ liệu được thu nhập từ một mẫu gồm 350 người từ tất cả bốn khu vực đông, tây, nam và bắc ở Ấn Độ đã xác định ra sáu nhân tố là nhận thức chất lượng dịch vụ, nhận thức rủi ro, nhận thức tính hữu dụng, chi phí cảm nhận, mức độ dễ sử dụng và sự tin tưởng có tác động đến ý định sử dụng VĐT của khách hàng và nhận thức tính hữu ích là yếu tố có mức độ tác động lớn nhất đến ý định sử dụng VĐT. Tại Thái Lan, nghiên cứu của Amit và Bhumiphat (2019) nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của năm yếu tố bao gồm nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng, độ tin cậy về bảo mật/quyền riêng tư, ảnh hưởng xã hội, độ tin cậy. Thu thập dữ liệu từ 384 câu trả lời kết quả thu về cho thấy 5 biến độc lập đều có ảnh hưởng đến ý định sử dụng VĐT. Trong đó nhân tố độ tin cậy thể hiện mức độ tác động mạnh mẽ nhất đến ý định sử dụng VĐT.
Hoặc theo nghiên cứu của Lim và ctg (2019) về Xác định tác động của kiến thức và nhận thức bảo mật đối ý định sử dụng dịch vụ thanh toán Fintech để kiểm tra các biến trong nghiên cứu có mối quan hệ như thế nào với nhau sử dụng mô hình phương trình cấu trúc. Kết quả cho thấy kiến thức về dịch vụ Fintech, tính hữu ích, nhận thức bảo mật và sự hài lòng tác động đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán di động. Padiya và Bantwa (2020) đã phát hiện ra tính bảo mật, quyền riêng tư và chi phí giao dịch được người sử dụng ví điện tử đánh giá rất cao sau khi nghiên cứu về 15 việc người dân chấp nhận sử dụng VĐT làm phương thức thanh toán ở Thành phố Ahmedabad, Ấn Độ dựa trên 318 câu trả lời. Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng tỷ lệ phần trăm, lập bảng chéo và công cụ thống kê như ANOVA, sử dụng mô hình công nghệ (UTAUT).