Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương này sẽ nói về công trình nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài và bố cục đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nhân tố tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTM Chương này trình bày nội dung cơ sở lý thuyết về khả năng thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng thanh khoản. Bên cạnh đó lược khảo và trình bày các nghiên cứu trong nước, ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng thanh khoản và hiệu quả hoạt động của NHTM để làm cở sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương sau. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Dựa trên cở sở lý thuyết chương 2, chương 3 xây dựng và trình bày mô hình nghiên cứu, quy trình, phương pháp và các biến nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này thực hiện các kiểm định mô hình nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình và phân tích tác động của các biến đến tăng trưởng thanh khoản. Từ kết quả đó đưa ra mô hình phù hợp thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố kinh tế vĩ mô và thanh khoản của các NHTM. 5 Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương 5 đánh giá kết quả nghiên cứu, chỉ ra những hạn chế của đề tài và hướng phát triển tiếp theo. Từ đó đưa ra những khuyến nghị cho các NHTMCP Việt Nam để gia tăng hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro thanh khoản được tốt hơn.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM 2. Cơ sở lý thuyết về thanh khoản và rủi ro thanh khoản ngân hàng 2. Khái niệm khả năng thanh khoản của ngân hàng Theo sách “A Treatise on Money”, tính thanh khoản là một khái niệm trong tài chính chỉ khả năng mua hoặc bán các tài sản trên thị trường mà không tạo ra sự thay đổi lớn đến giá của tài sản. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể (Keynes, 1930).
Theo Basel II (2008), thanh khoản là khả năng ngân hàng vừa tăng tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không phải chịu tổn thất quá mức cho phép. Tại Mỹ, dưới góc độ tài sản, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) định nghĩa khả năng thanh khoản là thước đo khả năng dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền. Tài sản thanh khoản là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền khi cần để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu khả năng thanh khoản là khả năng ngân hàng có đủ nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng lúc ngân hàng cần.
Đối với một ngân hàng, khả năng thanh khoản được xét trên ba góc độ, bao gồm: tính thanh khoản của tài sản, tính thanh khoản của nguồn vốn và tính thanh khoản của ngân hàng. Tính thanh khoản của tài sản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản, được đo bằng thời gian và chi phí. Một tài sản được xem là có tính thanh khoản cao nếu việc chuyển tài sản đó thành tiền mất thời gian ngắn và chi phí thấp (Longworth, 2010). Tính thanh khoản của nguồn vốn là khả năng huy động, mở rộng nguồn vốn của ngân hàng, được đo bằng thời gian và chi phí mở rộng nguồn vốn huy động khi cần.
Thời gian và chi phí của nguồn vốn huy động càng thấp thì tính thanh khoản càng cao và ngược lại (Neto, 2003). 7 Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi chúng đến hạn với một chi phí hợp lý. Đối với NHTM thì tính thanh khoản là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả, rút tiền và cho vay. Cung cầu thanh khoản Theo Nguyễn Bảo Huyền (2016), cung thanh khoản chính là khả năng cung ứng tiền của một ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng.
Nguồn cung thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: các khoản tiền gửi, thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ, các khoản thu tín dụng, tiền từ việc bán tài sản kinh doanh, vay mượn từ thị trường tiền tệ. Cầu thanh khoản là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng. Những hoạt động tạo ra cầu thanh khoản bao gồm: khách hàng rút tiền gửi, khách hàng đề nghị vay vốn, thanh toán các khoản phải trả, chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, thanh toán cổ tức cho cổ đông (Nguyễn Bảo Huyền, 2016). Một thực tế thường xuyên xảy ra là rất hiếm khi cung thanh khoản và cầu thanh khoản bằng nhau tại một thời điểm, nghĩa là các ngân hàng thường ở trạng thái thặng dư hoặc thiếu hụt thanh khoản.
Chính điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải luôn nắm bắt và đánh giá được trạng thái thanh khoản của ngân hàng ở bất kỳ thời điểm nào để có thể nhanh chóng đưa ra những quyết định đúng đắn mang lại lợi nhuận tốt nhất cho ngân hàng. Đánh giá tốt trạng thái thanh khoản cùng những quyết định đúng lúc của nhà quản trị giúp cho ngân hàng một mặt tận dụng tốt nguồn vốn nhàn rỗi để tìm kiếm lợi nhuận, mặt khác giúp nâng cao, giữ vững uy tín của ngân hàng và tránh được rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán 8 tài sản với giá thấp (Vũ Thị Hồng, 2015). Rủi ro thanh khoản xảy ra khiến cho ngân hàng phải đình trệ hoạt động gây thua lỗ, mất uy tín và có thể dẫn đến phá sản.
Những nguyên nhân tiền đề gây ra rủi ro thanh khoản của ngân hàng: ❖ Ngân hàng huy động và đi vay vốn với thời hạn ngắn, và cứ tuần hoàn sử dụng khoản vốn đó cho vay với thời hạn dài hơn. Do đó, nhiều khi ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp với thời hạn đến hạn giữa tài sản nợ và tài sản có. ❖ Sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi của lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn.
Như vậy thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến luồng tiền vào ra và khả năng thanh khoản của ngân hàng. ❖ Hiệu ứng rút tiền dây chuyền trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền huy động được nên khi khách hàng đồng loạt rút tiền, sẽ rất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ. Điều này tác động đến thanh khoản của các ngân hàng. Hoặc có thể chia rủi ro thanh khoản thành ba nhóm theo các nguyên nhân từ hoạt động: Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản nợ: rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi những người gửi tiền rút tiền ngay lập tức.
Để đáp ứng nhu cầu này ngân hàng phải đi vay trên thị trường tiền tệ hoặc bán bớt tài sản với giá thấp. Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có: rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến các cam kết tín dụng. Cam kết tín dụng cho phép người vay rút tiền vay bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó, ngân hàng phải đảm bảo có đủ tiền ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng: sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tài chính phái sinh khiến rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng cũng ngày càng tăng.
Các nghĩa vụ thanh toán bất thường như cam kết bảo lãnh, các 9 hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn xảy ra khi các hợp đồng đó đến hạn dẫn đến sự phát sinh nhu cầu thanh khoản. Khi đó, NHTM có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không có kế hoạch chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời. Cách đo lường khả năng thanh khoản Có hai phương pháp thông dụng dùng để đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng: phương pháp khe hở thanh khoản (liquidity gap) và các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản (liquidity ratios). Khe hở thanh khoản là chênh lệch giữa tài sản và nghĩa vụ nợ của ngân hàng ở thời điểm hiện tại và thời điểm trong tương lai (Bessis, 2009).
Về bản chất, khe hở thanh khoản là phương pháp dựa trên cách tiếp cận theo dòng tiền. Ngân hàng đưa ra dự báo về dòng tiền vào và ra để xác định mức dự trữ cần thiết trong từng thời kỳ. Các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản sử dụng dữ liệu từ các khoản mục trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng như tổng tài sản, cho vay khách hàng, tiền gửi khách hàng, dư nợ cho vay để xác định xu hướng và khả năng thanh khoản của ngân hàng. Có 4 chỉ số thường được sử dụng là: Tài sản thanh khoản LIQ1 = Tổng tài sản Tỷ số này cho biết tỷ trọng của tài sản thanh khoản đang là bao nhiêu trên tổng tài sản của một ngân hàng.
Tỷ số càng cao cho biết khả năng thanh khoản của ngân hàng đó càng tốt. Tài sản thanh khoản LIQ2 = Tổng tiền gửi Tỷ số thể hiện khả năng ngân hàng dùng tài sản thanh khoản để chi trả cho các yêu cầu rút tiền của khách hàng. Tiền gửi là nguồn huy động có bản chất không ổn định và độ nhạy cảm cao do khách hàng có quyền rút tiền bất cứ lúc nào khi có nhu cầu. 10 Cũng giống như LIQ1, tỷ số càng cao chứng minh khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt.
Dư nợ cho vay LIQ3 = Tổng tài sản Tỷ số này giúp các nhà quản trị xác định tỷ lệ mức cho vay trên tổng tài sản. Khác với hai tỷ số trên, tỷ số LIQ3 càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng yếu. Dư nợ cho vay LIQ4 = Tổng tiền gửi Tỷ số này cũng tương tự LIQ3. Giá trị càng cao chứng tỏ khả năng thanh khoản càng yếu.
Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng ưu tiên thu nợ dựa trên dòng tiền và đây cũng là nguồn ngân hàng sử dụng để chi trả cho các nghĩa vụ tài chính phát sinh.