Chương 1 khái quát lý do chọn đề tài, song song với mục tiêu thì xác định các nhiệm vụ cần phải giải quyết. Để hoàn thành được các câu hỏi, chương này đã trình bày phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu đóng góp của đề tài này cho các NHTM Việt Nam và định ra kết cấu của luận văn để tạo cơ sở trình bày cho các chương tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết về hiệu quả kinh doanh tại ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về hiệu quả Farell (1957) cho rằng hiệu quả là chỉ tiêu để đánh giá một tổ chức khi tối đa hóa được thu nhập với chi phí đầu vào ban đầu. Ngoài ra theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả được phản ánh với hai khía cạnh đó là khả năng kiểm soát khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu được chi phí nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh với các tổ chức khác, thứ hai là việc kết hợp tối ưu các đầu vào để tạo ra đầu ra. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Farell (1957) cho rằng HQKD tại một tổ chức kinh doanh hay mở rộng cho bối cảnh NHTM thì vẫn dựa trên hai chỉ tiêu hiệu quả đó là tuyệt đối và tương đối.
Trong đó, hiệu quả tuyệt đối phản ánh thông qua kết quả kinh doanh sau khi trừ đi chi phí bỏ ra để có được kết quả. Chỉ tiêu tuyệt đối này phản ánh quy mô, khối lượng hay lợi nhuận đạt được với các điều kiện thời gian hay địa điểm cụ thể. Tuy nhiên, hiệu quả tuyệt đối lại gặp những hạn chế do khó so sánh được giữa các doanh nghiệp có cùng quy mô với chiến lược kinh doanh dài hạn và chưa thể hiện được việc sử dụng các nguồn lực trong mối quan hệ so sánh hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức. Đối với hiệu quả tương đối thì lại dựa trên tỷ số giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào, cách đánh giá này tạo được sự thuận tiện trong việc so sánh các tổ chức với quy mô, không gian hay thời gian khác nhau.
Rose (2002) cho rằng bản chất của việc đánh giá HQKD của NHTM sẽ dựa trên lý thuyết nền tảng của HQKD tại doanh nghiệp nhưng sẽ xem xét thêm các vấn đề đặc thù của NHTM. Với khía cạnh hẹp thì HQKD tại các NHTM chính là khả năng tạo ra lợi nhuận nhưng đảm bảo tính hoạt động bền vững của các NHTM. Nếu xét rộng ra thì HQKD của NHTM không dừng lại với sự quan tâm đến lợi nhuận mà nó còn liên quan đến cấu trúc tài sản nợ và tài sản có hợp lý, 9 đồng thời đó là sự tăng trưởng ổn định của lợi nhuận. Trong đó, các nguồn lực chính của NHTM đó là lao động, cơ sở vật chất, tài chính cho các hoạt động kinh doanh như nhận tiền tiết kiệm, cho vay và đầu tư được xem là căn cứ để xác định tính hiệu quả và các yếu tố tác động đến HQKD của NHTM.
Tính đến thời điểm hiện nay thì các nghiên cứu về HQKD của các NHTM thì các học giả tiếp cận theo các quan điểm đó là xem NHTM như một đơn vị sản xuất (Benston, 1965; Shaffnit và cộng sự, 1997), như các trung gian tài chính (Sealey và Lindley, 1977; Maudos và Pastor, 2003; Casu và cộng sự, 2003) và một số khác thì cho rằng NHTM có thể đảm nhiệm một lúc hai vai trò trên (Denizer và cộng sự, 2000). Theo hướng tiếp cận NHTM là đơn vị sản xuất thì Benston (1965) cho rằng các NHTM được xem là các nhà cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong đó các yếu tố đầu vào bao gồm các tài sản có trạng thái vật lý như lao động, không gian, vật liệu hay các hệ thống thông tin và các chi phí liên quan. Đối với đầu ra thì đó là các dịch vụ tài chính được cung cấp cho khách hàng tính theo số lượng giao dịch, loại giao dịch hay các văn bản được xử lý cho khách hàng tại một thời gian nhất định.
Tuy nhiên có những trường hợp không có sao lưu về số lượng giao dịch chi tiết thì có thể thay thế bằng các nguồn liên quan đến số lượng tài khoản tiền gửi hay cho vay như một dạng thức thay thế để đáp ứng được các dịch vụ được khách hàng yêu cầu. Tuy nhiên cách tiếp cận này được sử dụng khi đánh giá hiệu quả tại một NHTM cụ thể. Theo hướng tiếp cận NHTM là đơn vị trung gian tài chính thì Sealey và Lindley (1977) cho rằng các lý thuyết vĩ mô kinh tế cho rằng các NHTM và các doanh nghiệp chỉ khác nhau với đặc điểm hoạt động. Trong đó các NHTM được xem là trung gian giữa người thừa vốn sẽ gửi tiết kiệm và đầu tư nên NHTM tận dụng nguồn vốn đó để tạo ra các sản phẩm tài chính từ các kênh huy động đó đầu tư vào các tài sản có thể sinh lời cho mình như cấp tín dụng, chứng khoán 10 và danh mục đầu tư khác.
Đối với cách tiếp cận này thì cho phí hoạt động và lãi suất huy động được xem là các yếu tố đầu vào thì các khoản cấp tín dụng và các tài sản lớn khác được xem là đầu ra, nhưng cũng có những ý kiến trong việc cho rằng tiền gửi là đầu vào hay đầu ra nếu theo cách tiếp cận này. Theo Mester (1987) cho rằng đầu ra của NHTM khi là trung gian tài chính là các tài sản của NHTM thì tiền gửi huy động được, vốn và lao động sẽ được xem là các yếu tố đầu vào. Vấn đề quan trọng nhất trong cơ cấu lợi nhuận của NHTM chính là thu nhập từ các khoản lãi và điều này khẳng định hoạt động cấp tín dụng của NHTM là rất quan trọng, do đó nếu sản phẩm tín dụng được xem là một sản phẩm thì giá của nó chính là lãi suất cho vay. Mặt khác, nguồn vốn đi vay của NHTM chính là các khoản tiền gửi tiết kiệm huy động hay vốn chủ sở hữu để sử dụng thì NHTM vẫn phải tốn một khoản chi phí, do đó các khoản huy động này được xem là cơ sở để tạo ra sản phẩm tín dụng nên nó sẽ được xem là một chất liệu trong quá trình sản xuất của NHTM.
Theo cách tiếp cận hiện đại của Freixas (2010) thì có nét cải tiến hơn hai cách trên khi kết hợp các hoạt động kinh doanh cụ thể của NHTM vào các lý thuyết cổ điển. Trong đó cách tiếp cận này có các hướng nhỏ đó là tiếp cận theo tài sản, chi phí sử dụng, giá trị gia tăng hay phương diện hoạt động của NHTM. Trong đó, theo cách tiếp cận theo tài sản thì Sealey và Lindley (1977) cho rằng nếu tập trung vào vai trò trung gian tài chính của NHTM để kết nối giữa người gửi tiền với người sử dụng tài sản cuối cùng của NHTM thì tiền gửi, các khoản nợ và các nguồn lực thực tế (lao động, cơ sở vật chất,…) được xem là đầu vào. Trong khi đó các sản phẩm cấp tín dụng, bảo lãnh, bao thanh toán là sự thiết lập tài sản của NHTM được xem các đầu ra cụ thể.
Đối với cách tiếp cận theo chi phí sử dụng thì Hancock (1985) lại xác định các sản phẩm tài chính của NHTM được đánh giá là đầu vào hay ra của NHTM thì cần dựa trên mức độ đóng góp của nó vào doanh thu ròng của NHTM, nếu tỷ số lợi nhuận tài chính trên tài sản lớn hơn chi phí sử dụng vốn hay các chi phí tài chính mà NHTM chi trả thấp 11 hơn chi phí cơ hội thì được xem là đầu ra; ngược lại thì được đánh giá là đầu vào. Đối với cách tiếp cận theo giá trị gia tăng, Berger và cộng sự (1997) chỉ ra rằng các số liệu trên bảng cân đối kế toán như tài sản và nợ phải trả được xem là đầu ra, đóng góp cho sự gia tăng của NHTM. Mặt khác, đối với cách tiếp cận này thì tiền gửi với mọi kỳ hạn và cho vay với mị đối tượng được xem là kết quả của đầu ra vì thể hiện được giá trị gia tăng của NHTM. Cuối cùng là cách tiếp cận theo hoạt động, Leightner và Lovell (1998) cho rằng NHTM là một tổ chức kinh doanh do đó mục tiêu cuối cùng là có nhiều thu nhập từ tổng chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
Nên với cách tiếp cận này thì doanh thu từ lãi hay từ các hình thức khác được xem là đầu ra và các chi phí như lãi suất, hoạt động được xem các đầu vào để tạo cơ sở tạo thu nhập. Tóm lại, dựa trên các cách cận trên dễ dàng nhận thấy các quan điểm khác nhau của các học giả khi đánh giá về HQKD tại các NHTM. Nhưng các cách tiếp cận đều có một bản chất chung đó là các NHTM thể hiện được HQKD của mình khi kết hợp được tối ưu và tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào như nhân lực, chi phí, năng lực tài chính, nguồn huy động hay các yếu tố khác với vai trò là trung gian tài chính hay là người sản xuất để cung cấp các sản phẩm tài chính như cho vay, đầu tư để đạt được các đầu ra tối đa, hay nói cách khác HQKD của NHTM được đo lường thông qua so sánh đường biên sản xuất của nó. Vì vậy với khuôn khổ nghiên cứu của luận văn thì HQKD của NHTM tác giả sẽ tiếp cận dựa trên hoạt động hay thu nhập (khả năng sinh lời) của các NHTM với điều kiện hoạt động bền vững, ổn định và hạn chế rủi ro.
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Tại NHTM thì có 3 phương pháp để đo lường HQKD đó là dựa trên tỷ số, chênh lệch giá cổ phiếu và đo lường biên lợi nhuận: Đối với phương pháp tỷ số, HQKD được tính toán dựa trên các chỉ tiêu trên báo 12 cáo tài chính như ROA, ROE, NIM. Phương pháp này được sử dụng phổ biến, dễ dàng thực hiện, dữ liệu thu thập căn cứ vào thời điểm được lựa chọn tại các NHTM. Với điều kiện dữ liệu thị trường bị hạn chế thì đây là phương pháp dễ thực hiện nhất trong việc đo lường HQKD của NHTM. Đối với phương pháp dựa trên chênh lệch của giá cổ phiếu thì chủ yếu được áp dụng tại các đơn vị có hoạt động niêm yết trên sàn chứng khoán.
Theo phương pháp này thì lợi nhuận của NHTM được hiểu là chênh lệch của giá cổ phiếu trong mỗi ngày, tuần, tháng (Miller, 1990; Khovansky và Zhylyevskyy, 2013; Nartea và cộng sự, 2013).