chương 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chương kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại các NHTM. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng của thẻ tín dụng ngân hàng 2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Timothy W. Koch (1995): “RRTD là sự rủi ro tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn tín dụng xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
Fitch (1997): “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”. Theo Ủy ban giám sát Basel (BCBS), RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận. RRTD còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng.
Tại Việt Nam theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho rằng: “RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.2 Các dấu hiệu rủi ro tín dụng ✓ Các dấu hiệu rủi ro tín dụng liên quan đến khách hàng Các dấu hiệu rủi ro tín dụng liên quan đến khách hàng gồm có một số các biểu hiện sau: 9 - Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các cam kết với ngân hàng/quy định của ngân hàng như trì hoãn hoặc gây khó khăn cho ngân hàng trong kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các số liệu/báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục,. - Đề nghị cơ cấu nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan. - Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản thanh toán tại ngân hàng. - Chậm thanh toán/thanh toán không đầy đủ các khoản nợ gốc/lãi khi đến hạn.
-Tài sản bảo đảm bị giảm sút bất thường so với định giá khi cho vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán hay trao đổi hoặc không còn tồn tại. - Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến. - Khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập khác không phải từ hoạt động sản xuất chính hoặc từ phương án vay vốn để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán nợ.
Tìm kiếm thêm nhiều nguồn tài trợ vốn lưu động từ nhiều kênh khác như vay nặng lãi hoặc từ các TCTD khác. - Sử dụng vốn ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn. ✓ Các dấu hiệu bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Các dấu hiệu bên trong và bên ngoài doanh nghiệp liên quan đến rủi ro tín dụng gồm có: - Phương thức thanh toán không an toàn: chiết khấu nhiều hơn, thanh toán chậm hơn, bán cho khách hàng mức độ tin cậy thấp,. - Năng lực quản trị yếu kém: nội bộ mâu thuẫn, thường xuyên thay đổi nhân sự chủ chốt, phương án kinh doanh không hiệu quả, không kiểm soát được hoạt động, tiến độ thực hiện, chi phí.
10 - Năng lực tài chính yếu kém: vốn chủ sở hữu thấp, dư nợ cao, hạch toán khống các khoản mục (hàng tồn kho, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận,.) - Đầu tư ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của doanh nghiệp. - Yếu tố chuyển giá: giao dịch với công ty con hoặc công ty của người có liên quan điều chỉnh giá nhằm đẩy chi phí tăng cao chuyển lợi nhuận cho cá nhân, công ty con. - Thị hiếu tiêu dùng, xu hướng chi tiêu của khách hàng thay đổi. - Các chính sách về thuế quan, trợ cấp, chống bán phá giá của nhà nhập khẩu.
Không chủ động được nguồn nguyên liệu, giá cả đầu vào, chi phí biến động tăng không kiểm soát. - Đối thủ cạnh tranh về giá, chất lượng sản phẩm dịch vụ. ✓ Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng - Không xác định được tổng nhu cầu vốn vay của khách hàng, mà cấp hạn mức tín dụng vượt quá nhu cầu thực tế. - Chưa có sự phân loại đối với từng nhóm khách hàng có mức độ rùi ro khác nhau - Rút vốn đột ngột (khi nghe tin đồn về doanh nghiệp) làm doanh nghiệp thiếu vốn trong ngắn hạn.
- Không xác định được và xác định đúng phương thức kinh doanh đặc thù nên áp dụng một cách máy móc trong nghiệp vụ cho vay, thời hạn cho vay cứng nhắc. - Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo tạo kẻ hở cho khách hàng lợi dụng. - Hồ sơ tín dụng tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành của phê duyệt tín dụng. 11 Trên cơ sở các dấu hiệu để nhận diện rủi ro nêu trên, cán bộ Khách hàng tiến hành đánh giá, phân loại khoản vay/khách hàng để xác định mức độ rủi ro.
Bên cạnh đó, việc giám sát tổng thể danh mục tín dụng cũng quan trọng không kém. Những vấn đề liên quan đến tín dụng có thể nảy sinh do việc tập trung danh mục tín dụng như: - Tập trung vào một đơn vị hay một nhóm các đơn vị liên kết nhau - Một ngành kinh tế nhất định - Khu vực địa lý - Các khoản cho vay cùng một thời gian đến hạn hoặc cùng một loại ngoại tệ. Cán bộ tín dụng cần phân tích và đánh giá các cơ hội sử dụng vốn của khách hàng dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận. Nhiều quan điểm nhất trí rằng rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ.
Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng.3 Tác động của rủi ro tín dụng ✓ Làm giảm thu nhập và khả năng thanh toán của NHTM Ngân hàng không thu được nợ vay sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chủ động triển khai những hoạt động kinh doanh của mình. Đầu tiên, lợi nhuận sẽ bị giảm xuống, và khi những món nợ này chuyển sang các nhóm nợ xấu, nợ khó đòi, ngân hàng sẽ tốn nhiều chi phí hơn trong việc trích lập dự phòng rủi ro. Khi không thu được nợ vay, ngân hàng sẽ bị mất cân đối trong việc thu chi do dẫn đến phải sử dụng những nguồn có chi phí cao để thanh toán cho những vấn đề phát sinh. Chính những điều này sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng dẫn dẫn đến việc không còn khả năng chi trả nếu không có những điều chỉnh kịp thời.
12 ✓ Làm giảm uy tín của NHTM Khi uy tín giảm sút, khách hàng sẽ mất lòng tin vào ngân hàng dẫn đến tình trạng ngân hàng càng khó khăn hơn trong việc huy động vốn từ dân cư, trái lại họ sẽ rút lại những khoản tiền đã gửi để đầu tư vào một ngân hàng khác an toàn hơn. ✓ Là nguy cơ dẫn đến phá sản NHTM NHTM gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin của khách hàng giao dịch, đặc biệt là lòng tin của dân chúng. Vì lo sợ những khoản tiền gửi sẽ bị mất, khách hàng sẽ đến rút tiền để đầu tư vào một ngân hàng khác an toàn hơn. Trong trường hợp nghiêm trọng, nếu tình trạng dân chúng đổ xô đi rút tiền tại cùng một thời điểm và trong một thời gian dài sẽ dẫn đến tình trạng ngân hàng không đủ lượng tiền mặt để thanh toán cho khách hàng dẫn đến các ngân hàng hợp nhất, sáp nhập như: HDBank và DaiABank, HaBuBank và SHB, Phương Nam và Sacombank,… do tự thấy không thể tự tái cấu trúc, hoặc trong thời gian gần đây DongABank, CBBank buộc NHNN phải mua lại với giá 0 đồng để tái cấu trúc toàn diện.
Những động thái nói trên thì dù xét ở khía cạnh nào cũng dẫn đến nguy cơ gây ra những tổn thất rất lớn không thể lường trước được.2 Tổng quan về thẻ tín dụng của ngân hàng 2.1 Khái niệm thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là loại thẻ cho phép chủ thẻ được sử dụng trong hạn mức tín dụng tuần hoàn được cấp mà chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu vào ngày đến hạn (Trần Huy Hoàng và cộng sự, 2011). Đây là loại thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành cho phép chủ thẻ thanh toán hàng hoá - dịch vụ bằng thẻ với hạn mức chi tiêu nhất định. Hạn mức chi tiêu này được ngân hàng quy định cho từng chủ thẻ dựa trên khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp làm giá trị đảm bảo. Thực chất đây là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép chi tiêu trước trả tiền sau với thời hạn ưu đãi cuối tháng không tính lãi từ 16 đến 46 ngày.
Vào cuối 13 mỗi kì tín dụng, chủ thẻ thanh toán với ngân hàng toàn bộ hoặc một phần số tiền đã chi tiêu theo sau khi hạch toán. Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), thẻ tín dụng hay còn được gọi là Credit card là hình thức hỗ trợ người dùng dễ dàng thanh toán khi chi tiêu dù trong tài khoản không có sẵn tiền. Bên ngân hàng sẽ cấp một hạn mức tiền nhất định vào tài khoản và đến hết tháng, người dùng có nhiệm vụ hoàn lại số tiền đã chi tiêu trước đó. Số tiền được cấp sẽ tùy thuộc vào điều kiện từng người, mức lương hàng tháng đáp ứng tiêu chuẩn của ngân hàng.
Nếu đủ điều kiện, ngân hàng sẽ cấp thẻ và hạn mức tiêu dùng nhất định, chủ thẻ có thể sử dụng để thanh toán các nhu cầu chi tiêu, mua sắm dễ dàng.