CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Thị trường Chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động từ tháng 8 năm 2000, với chỉ số VNindex 100 điểm. Đến 2006–2007, chứng khoán là kênh đầu tư vô cùng hấp dẫn và thời thượng, nhà nhà đua nhau tham gia thị trường, người người đua nhau mua cổ phiếu. Nhờ lực cầu tăng mạnh nên chỉ số VNindex chạm ngưỡng 1.179,32 điểm vào tháng 3 năm 2007 và vẫn là số điểm cao nhất của thị trường sau 17 năm hoạt động. Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã kéo thị trường về mốc 239,69 điểm, hậu quả của cuộc khủng hoảng này kéo dài đến nhiều năm sau đó.
Sau nhiều lần chinh phục đỉnh của thị trường nhưng chưa một lần thành công, đến nay chỉ số VNindex đã có một kết quả khá ngoạn mục, khi từ đầu năm 2016 đến nay thị trường hình thành một con sóng mới kéo dài hơn 2 năm qua đã đưa chỉ số chạm 1.130 điểm – cao nhất sau 10 năm qua. Với những năm tới đây, nhiều nhà đầu tư kỳ vọng có thể chứng khoán sẽ vượt được ngưỡng điểm cao nhất của thị trường, thu hút sự quan tâm trở lại của nhiều người và trở thành một thị trường quan trọng trong việc đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà. Chính vì những điều trên nên số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng nhiều, trong đó có: Nhà đầu tư cá nhân trong nước, nhà đầu tư cá nhân nước ngoài, tổ chức đầu tư tài chính trong nước và tổ chức đầu tư tài chính ngoài nước. Với số lượng nhà đầu tư cá nhân chiếm áp đảo, với tỷ lệ 99,57%, số còn lại là của nhà đầu tư tổ chức (6.
Số lượng tài khoản giao dịch nước ngoài là 17.789 tài khoản, trong đó của nhà đầu tư cá nhân chiếm hơn 87% (15. Mặc dù, chứng khoán là kênh đầu tư vô cùng hấp dẫn, mang lại nhiều lợi nhuận nhưng nếu như không có phương pháp và chiến lược phù hơp thì dễ đánh mất tiền trên thị trường này. Những năm gần đây, thị trường chứng khoán bùng nổ, hầu hết các nhà đầu tư đều coi đó là nơi tìm kiếm lợi nhuận hấp dẫn. Tuy nhiên, 2 hiện tại thị trường đã tăng khá mạnh nên nhà đầu tư thận trọng hơn khi đưa ra quyết định mua bán vì sợ tài khoản bị ảnh hưởng bởi những thông tin bên ngoài.
Mặt khác, thị trường đã tăng khá mạnh nhiều nhà đầu tư đánh giá rằng mức lợi nhuận mang lại không còn hấp dẫn và mức độ rủi ro đã tăng cao nên đã rút khỏi thị trường chứng khoán và tham gia đầu tư vào các thị trường khác hoặc nhà đầu tư ít giao dịch mua bán làm giảm đi dòng tiền ra vào thị trường, không kích thích được sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư chứng khoán cá nhân tại Việt Nam nói riêng cũng như các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nói chung là điều cần thiết nhằm thu hút họ tham gia thị trường thường xuyên và làm sôi động thị trường này, góp một phần nào đó vào sự tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà. Ngoài ra, với sự tích cực giao dịch trên thị trường chứng khoán của nhà đầu tư cũng mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty chứng khoán với sự phát sinh phí giao dịch khi mở tài khoản để giao dịch. Có rất nhiều nhân tố tác động đến quyết định của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán.
Ngoài những biến động không lường về tình hình kinh tế vĩ mô, tình hình sản xuất kinh doanh của chính bản thân các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, còn rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư. Do đó, việc nắm bắt các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư chứng khoán là điều then chốt cho việc hỗ trợ đưa ra lời khuyên, khuyến nghị cho các nhà đầu tư cá nhân cần nhanh chóng, chuẩn xác và tiết kiệm được chi phí. Tóm lại, vì các lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại thị trường chứng khoán việt nam”.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Sự phát triển thị trường Chứng khoán Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, cùng với sức ảnh hưởng ngày càng lớn của thông tin đến việc ra quyết định đầu tư đã thu hút một số lượng đa dạng, đồ sộ những nghiên cứu về nó từ trước đến nay. Trong số đó, các nghiên cứu điển hình bao gồm: 3 Vincent S.Mutswenje (2014) đã tiến hành trên 1,8 triệu nhà đầu tư cá nhân từ 50 mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên để nghiên cứu.
Với 5 biến độc lập: Hình ảnh công ty, thông tin kế toán, thông tin trung lập, khuyến nghị từ nhà tư vấn và nhu cầu tài chính cá nhân. Để thu thập dữ liệu, nhà nghiên cứu đã sử dụng bảng câu hỏi gồm 28 biến quan sát. Sau khi tổng hợp và phân tích số liệu các nhà nghiên cứu xác nhận rằng: Có một mức độ tương quan nhất định giữa các yếu tố lý thuyết tài chính hành vi và các bằng chứng thực nghiệm trước đây xác định cho các nhà đầu tư. Và gộp các biến quan sát thành 9 biến độc lập và tiếp tục phân tích thành ma trận quay.
Hai yếu tố đầu tiên chỉ ra rõ ràng rằng các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cá nhân trong NSE là: Vị trí và hiệu quả của doanh nghiệp, lợi nhuận đầu tư và điều kiện kinh tế. Kết quả từ nghiên cứu đưa ra rằng các yếu tố đã được xác định và xếp hạng là "danh tiếng", "tình trạng của công ty trong ngành", "thu nhập doanh nghiệp dự kiến", "lợi nhuận và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh", "hiệu quả của cổ phiếu công ty trước đây" và "cổ tức kì vọng cho các nhà đầu tư”. Hiện tại, tác giả đã kế thừa lại 5 biến độc lập được gọi tên là: Hình ảnh công ty, thông tin kế toán, thông tin trung lập, nhu cầu tài chính cá nhân và khuyến nghị của nhà tư vấn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư chứng khoán cá nhân. Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu chỉ sử dụng 28 biến quan sát nên tác giả đã bổ sung thêm các biến quan sát đó là: Tính minh bạch của thông tin (dùng để đo biến thông tin kế toán, do tác giả đề xuất trong quá trình khảo sát chuyên gia và thảo luận nhóm) ngoài ra còn có biến quan sát danh tiếng của cổ đông công ty (của biến độc lập hình ảnh công ty), tính thanh khoản của cổ phiếu (của biến độc lập thông tin kế toán) và khuyến nghị từ môi giới (của biến độc lập khuyến nghị của nhà tư vấn) được tác giả kế thừa trong các nghiên cứu bên dưới để thêm vào danh sách các biến quan sát của bài nghiên cứu này.
Bản chất nhà đầu tư chứng khoán tại Việt Nam cũng sử dụng phân tích kĩ thuật từ lịch sử giá và khối lượng cổ phiếu, phân tích cơ bản từ thông tin tài chính của doanh nghiệp cùng với các thông tin vi mô, vĩ mô bên ngoài để ra quyết định đầu tư. Mà 5 biến độc lập trên đều hội tụ đủ các yếu tố mà tác giả vừa nêu ra do đó các biến được tác giả chọn để kế thừa trong bài nghiên cứu 4 này là khá phù hợp để sử dụng nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Anna Merika (2014) đã khảo sát trên 500 Nhà đầu tư cá nhân tại Hy Lạp và thu lại được 150 bảng trả lời đầy đủ. Từ các bảng hỏi thu thập được tác giả đã khảo sát được 26 biến quan sát từ bảng hỏi trên.
Tiếp theo, phân tích 26 biến số bằng cách thông qua phương pháp Varimax - phân tích nhân tố quay trục giao để nhóm các biến quan sát thành các cụm đồng nhất và đặt tên cho các cụm đó là: Thông tin kế toán, điều kiện chủ quan của nhà đầu tư, thông tin trung lập, khuyến cáo/khuyến nghị, nhu cầu tài chính cá nhân. Tiếp tục phân tích và đưa ra kết quả rằng: Có sự tương quan giữa các yếu tố lý thuyết tài chính hành vi và các yếu tố ảnh hưởng cho nhà đầu tư cá nhân trong Sở Giao dịch Chứng khoán Athens (ASE) chịu ảnh hưởng bởi các xu hướng chung đang diễn ra tại thời điểm điều tra tại ASE. Hiện tại, tác giả tiếp tục kế thừa tất cả 5 biến độc lập của Anna Merika nhưng thay tên gọi của biến độc lập "điều kiện chủ quan" thành biến "hình ảnh công ty". Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng giống với nghiên cứu của một số tác giả khác, Anna Merika cũng chỉ sử dụng 26 biến quan sát.
Do vậy, tác giả đã tiếp thu, bổ xung và điều chỉnh thành 31 biến quan sát để làm rõ biến độc lập và phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam. Dựa vào nghiên cứu của Anna Merika các nhân tố đưa ra khá đẩy đủ và chiếm mức độ ảnh hưởng khá cao nhưng chưa đưa ra được các thang đo tạo thành biến phụ thuộc quyết định đầu tư. Do đo, trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ đưa ra các yếu tố đo lường của biến quyết định đầu tư mà Anna chưa giải thích được. Khan et al.
(2016) đã áp dụng các phương pháp định lượng và định tính để nghiên cứu ảnh hưởng của ba phương pháp dự đoán theo kinh nghiệm: Dựa vào thông tin và điều chỉnh, nguyên tắc đại diện và nguyên tắc sẵn có đối với quyết định mua cổ phiếu của nhà đầu tư trong bối cảnh Malaysia và Pakistan. Tác giả cũng kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố nhân khẩu học như giáo dục, thu nhập và kinh nghiệm. Lấy mẫu thuận tiện đã được sử dụng và tổng số 1000 bảng câu hỏi được cung cấp cho các nhà đầu tư tại Sở giao dịch Malaysia và Pakistan, nhận được khoảng 300 câu trả lời (160 người từ Pakistan và 140 người từ Malaysia) khi đã bỏ một số câu hỏi có thông tin không đầy đủ thì còn lại 240 bảng câu hỏi được sử dụng 5 để phân tích (144 người từ Pakistan và 96 người từ Malaysia). Dữ liệu đã được phân tích thông qua mô tả, tương quan và phân tích hồi quy.
Kết quả cho thấy cả ba phương pháp chẩn đoán có tương quan đáng kể và có ảnh hưởng mạnh đến quyết định mua cổ phiếu của nhà đầu tư.