Chương 1 : TỔNG QUAN 1. Lý do chọn đề tài Trong bản đồ du lịch, điểm du lịch Mũi Né là tên thường gọi của dải bãi biển dài khoảng 25km gồm 3 phường Phú Hải, Hàm Tiến, và Mũi Né, của thành phố Phan Thiết, và mở rộng ra là toàn bộ dải ven biển dài khoảng 140 km từ thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong ở phía đông bắc trải dài theo bờ biển đến thị xã La Gi ở phía tây nam. Quy mô khoảng 216.141 ha, trên địa bàn các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, TP. Phan Thiết, Hàm Thuận Nam, và Thị xãLa Gi.
Đây cũng là địa bàn quy hoạch của Khu du lịch quốc gia Mũi Né đến năm 2030 của tỉnh Bình Thuận. Mũi Né đứng thứ 2 trong top 11 bãi biển đẹp nhất Châu Á theo bình chọn của Trang du lịch Canadian Travellers năm 2014. Skyscanner - một trong những trang web tìm kiếm thông tin du lịch hàng đầu thế giới - cũng bình chọn bãi biển Mũi Né đứng vị trí thứ nhất trong danh sách “10 bãi biển hấp dẫn nhất Đông Nam Á”. Tờ HuffingtonPost khen ngợi Mũi Né là 1 trong 19 điểm đến giúp du khách làm mới cuộc sống tại khu vực Đông Nam Á.
Trang Loneley Planet cũng đã bình chọn Mũi Né là một trong những bãi biển du khách không thể bỏ qua khi đến Việt Nam. Nằm trong vùng nhiệt đới, khí hậu nóng và khô, độ ẩm trung bình và số ngày mưa trong năm thấp, Mũi Né thu hút khách du lịch quanh năm. Vịnh Phan Thiết tương đối nóng, nhiều gió nên phù hợp với các loại hình thể thao biển như lướt ván, thuyền buồm, lướt ván dù, khinh khí cầu, môn dù lượn có gắn máy (Paramotor)… Lợi thế không chỉ ở biển mà còn ở sự tồn tại phong phú của danh lam thắng cảnh, di tích kiến trúc lịch sử và hệ thống văn hóa lễ hội cả dân gian lẫn hiện đại. Danh thắng đồi cát Mũi Né, là biểu tượng của vùng đất Bình Thuận, trở thành đề tài nổi bật trong các cuộc thi ảnh nghệ thuật; bãi biển Đồi Dương với bờ biển rộng, nước trong xanh, bãi cát trắng mịn, thoải dần ra biển; Suối Tiên có vẻ đẹp hoang sơ kết hợp các địa điểm như Hòn Rơm, Bàu Trắng, hồ nước xanh thẳm giữa sa mạc cát trắng, tạo bức tranh thiên nhiên thơ mộng về hồ nước, biển cả; hệ thống bãi biển hoang sơ cùng cảnh quan hùng vĩ như bãi đá Ông Địa; các hòn đảo còn nguyên sơ như Hòn Ghềnh hay Hòn Lao, 2 … tất cả tạo nên quần thể phong cảnh thiên nhiên độc đáo có giá trị du lịch cao đối với tỉnh Bình Thuận và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
Khu vực Mũi Né và các vùng phụ cận còn nổi bật bởi nhiều di sản văn hóa như các di tích chùa Ông, Lầu Ông Hoàng, quần thể tháp Chăm Pôshanư, trường Dục Thanh; các lễ hội dân gian như lễ hội đua thuyền trên sông Cà Ty, lễ hội truyền thống của người Chăm, các trò chơi như khám phá chinh phục đồi cát, đi thuyền thúng…; nét đẹp văn hóa gắn liền cuộc sống bình dị của ngư dân làng chài ven biển; giá trị văn hóa ẩm thực với hương vị của nước mắm Phan Thiết, mực tươi nướng… tạo cho du khách cảm nhận được cái nắng, gió và vị mặn của biển Bình Thuận. Bên cạnh đó, Mũi Né còn có không gian trưng bày nghệ thuật và là bảo tàng thu nhỏtái hiện lại một phần làng chài xưa của Phan Thiết – Mũi Né cách đây hơn 300 năm. Với những tiềm năng và lợi thế nêu trên, Mũi Né đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng Nam Trung bộ kể từ sự kiện nhật thực toàn phần xảy ra vào ngày 25 tháng 10 năm 1995nhờlà khu vực quan sát rõ nhất,từ năm 1995 đến 2000, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịchở Mũi Né bắt đầu được xây dựng như: tuyến đường 706B được hoàn thiện: công viên, bãi tắm công cộng tại khu vực Đá Ông Địa cùng với nhiều hệ thống resort cao cấp và sang trọng.Tại khu vực Hàm Tiến - Mũi Né, nhiều dự án thuộc các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, dã ngoại, du lịch kết hợp chơi golf, lướt ván diều, ván buồm và chăm sóc sức khỏe đi vào khai thác, thu hút đông đảo khách du lịch. Du lịch Mũi Né đã phát triển mạnh mẽ từ sau năm 2000.
Giai đoạn 2010 - 2017, lượng khách du lịch đến Mũi Né khá ổn định, có xu hướng tăng đều qua các năm với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11,11%/năm. Năm 2010, lượng khách du lịch đến Mũi Né là 2.200 nghìn lượt khách, trong đó khách nội địa đạt 1.940 nghìn khách và khách quốc tế đạt 260 nghìn lượt khách. Đến năm 2017, lượng khách du lịch đến đạt 4.599 nghìn lượt khách, trong đó khách nội địa đạt 4.004 nghìn lượt khách và khách quốc tế đạt 595 nghìn lượt khách, tăng 2.399 nghìn khách, tăng gấp 2,09 lần so với năm 2010. Số lượt khách đến Mũi Né và Bình Thuận (từ năm 2010 – 2017) Nguồn :Báo cáo tổng hợp Quy hoạch khu Du lịch quốc gia Mũi Né, trang 54.
Trong những năm qua, hoạt động du lịch của Mũi Né có sự tăng trưởng đáng kể, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từng bước đưa Bình Thuận thành một trong những điểm đến hấp dẫn của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước, đặc biệt địa danh Mũi Né được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến.Tuy nhiên, ngày lưu trú trung bình của khách du lịch chỉđạt 1,5 ngày đối với khách nội địa và 2,5 ngày đối với khách quốc tế. Như vậy Mũi Né là một trong những điểm đến du lịch biển của Việt Nam không chỉ được khách du lịch nội địa chọn làm điểm đến mà còn có cả khách du lịch quốc tế. Trải qua hơn một năm khủng hoảng Covid-19, do hạn chế đi lại khách du lịch quốc tế đến rất ít, nguồn khách đến chủ yếu là khách du lịch nội địa cũng sút giảm rất nhiều nên cạnh tranh thu hút khách càng trở nên khốc liệt hơn trước rất nhiều. Thực tế cho thấy năng lực cạnh tranh của Mũi Né không cao so với các điểm du lịch biển khác trong vùng phía Nam như Vũng Tàu, Nha Trang, Côn Đảo, và Phú Quốc.
Vậy vì sao khách du lịch nội địa quyết định chọn điểm đến Mũi Né cho chuyến du lịch của họ? Giải đáp được câu hỏi này sẽ cung cấp những thông tin gợi mở cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch ở Mũi Né xác định được hướng 4 triển khai các giải pháp cải thiện hoạt động hầu đáp ứng tốt hơn mong đợi của khách du lịch, thúc đẩy họ quyết định chọn điểm đến Mũi Né cho kỳ nghỉ. Gần đây nhiều nhà nghiên cứu cũng đề cập đến các nhân tố thúc đẩy (Push motives) và nhân tố kéo (Pull mutives) dựa trên lý thuyết gốc của Compton (1979). Theo quan điểm này, yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch chính là hình ảnh của điểm đến hay những nét đặc trưng riêng có của nó. Với những nghiên cứu trong nước hoặc những nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng du lịch trong nước hoặc đề cập tới các điểm đến tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây thiên về đánh giá sự hài lòng và lòng trung thành của du khách đối với một điểm đến cụ thể như điểm đến Đà Nẵng (Hồ Kì Minh và cộng sự, 2010; Phùng Văn Thành, 2014), hay đánh giá khả năng thu hút khách du lịch của một điểm đến như Huế (Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên, 2012), phân tích động cơ đi du lịch của khách du lịch nội địa(Bùi Thanh Hương và Lee Jolliffe, 2011), xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam (Lê Tuấn Anh, 2015),đánh giá hành vi của du khách khi lựa chọn điểm đến Thái Nguyên(Hoàng Thị Huệ và Trần Quang Huy, 2012).
Trên cơ sở đó đề xuất các chiến lược thu hút khách du lịch cũng như xây dựng thương hiệu điểm đến. Có thể khẳng định đối với các điểm đến Việt Nam cũng như việc gắn với hành vi của du khách nội địa, nghiên cứu thực nghiệm này là nghiêu cứu đầu tiên đề cập đến khía cạnh so sánh và tìm ra nhóm nhân tố tác động tới điểm đến gắn với loại hình du lịch. Với mong muốn góp phần giải đáp vấn đề trong thực tiễn quản lý điểm đến Mũi Né đề tài“Các nhân tố tác động đến quyết định chọn điểm đến Mũi Né của du khách nội địa”được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm đến Mũi Né của du khách nội địa và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố này. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá tác động của các nhân tố đến quyết định chọn Mũi Né là điểm đến cho kỳ nghỉ của du khách nội địa.
Để đạt được mục tiêu tổng quát này, bốn mục tiêu cụ thể cần đạt được là: • Xác định các nhân tố tác động đến quyết định chọn điểm đến của du khách nội địa. • Đưa ra mô hình nghiên cứu phù hợp nhất phản ảnh sự ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định chọn điểm đến du lịch. • Nghiên cứu và khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm đến Mũi Né của khách du lịch nội địa. Từ đó, đánh giá mức độ ảnh hưởng quan trọng của các yếu tố.
• Đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong việc hoạch định những chiến lược Marketing hiệu quả, phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch mới để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nội địa tại điểm đến Mũi Né. Câu hỏi nghiên cứu • Cấu thành của yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm đến du lịch của du khách là gì ? • Những nhân tố nào tác động đến quyết định chọn điểm đến Mũi Né của du khách nội địa? • Mức độ tác động của từng nhân tố đến quyết định chọn điểm đến Mũi Né của du khách nội địa như thế nào? • Các hàm ý chính sách nào để nâng cao khả năng thu hút khách du lịch nội địa của điểm đến Mũi Né ? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố tác động đến quyết định chọn điểm đến Mũi Né của du khách nội địa. 6 Đối tượng khảo sát trong nghiên cứu này là khách du lịch nội địa đến các khu du lịch ở Mũi Né , là người có khả năng chi trả cho chuyến đi hoặc là người có quyền quyết định chọn điểm đến.