Chương 1. Tổng quan lý luận về nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu Chương 2. Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu 6 Chương 3: Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu tại NHTMCP Á Châu. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU 1.1 Cơ sở lý luận về nợ xấu 1.
Khái niệm nợ xấu và phân loại nợ xấu 1.1 Khái niệm nợ xấu: Hiện nay chưa có sự thống nhất về khái niệm nợ xấu, sự khác biệt giữa các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế chủ yếu liên quan đến cách phân loại nợ xấu. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS)2, IMF cho rằng “một khoản nợ trước được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Như vậy có thể hiểu nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố: quá hạn trả nợ trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Một số quốc gia trên thế giới áp dụng định nghĩa này ví dụ như Trung Quốc.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCS) Trong thỏa thuận Basel lần thứ 3 (Basel III), BCBS không đưa ra thời gian quá hạn cho những khoản nợ được coi là “xấu”, tuy nhiên trong các hướng dẫn về thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý RRTD, BCBS quy định, “những khoản nợ đã quá hạn mà ngân hàng cảm thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa cố gắng thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS 39) Chuẩn mực kế toán quốc tế về nợ xấu trong IAS 39, chú trọng đến khả năng hoàn trả của khách hàng bất luận là khoản vay chưa tới ngày quá hạn. Phương pháp được sử dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng là phương pháp phân tích 8 dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc phương pháp xếp hạng khoản vay của khách hàng. Tại Việt Nam, được xác định là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) theo văn bản hợp nhất 01/VBHN-NHNN có nội dung “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Như vậy, từ các định nghĩa trên, có thể rút ra được, một khoản nợ xấu sẽ xuất hiện 1 trong 2 dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc hoặc khi khách hàng không có khả năng trả nợ cho TCTD hoặc ngân hàng. Phân loại nợ Phân loại nợ có thể hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng của khoản vay. Phân loại nợ Các tiêu chí phân loại nợ theo Ngân hàng thế giới (2015) - Nợ đạt tiêu chuẩn: Không nghi ngờ về khả năng trả nợ; Tài sản được đảm bảo hoàn toàn bằng tiền hoặc tương đương tiền; Quá hạn dưới 90 ngày - Nợ cần theo dõi: Xuất hiện những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ; Điều kiện kinh tế hoặc tài chính trong tương lai gặp khó khăn; Quá hạn dưới 90 ngày - Nợ dưới tiêu chuẩn: Có các điểm yếu về tín dụng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ; Các khoản nợ đã được thỏa thuận lại; Các khoản nợ quá hạn từ 90 -180 ngày. - Nợ nghi ngờ: Không chắc thu hồi được tòan bộ nợ ở hiện tại; Có khả năng thất thoát; Các khoản nợ quá hạn từ 180-360 ngày.
- Nợ mất vốn: Các khoản nợ không thể thu hồi; Các khoản nợ quá hạn hơn 360 ngày. 9 Phân loại nợ theo cách này, nợ xấu là các khoản nợ thuộc 3 nhóm: Nợ dưới tiêu chuẩn, Nợ nghi ngờ và Nợ mất vốn. Các tiêu chí phân loại nợ theo Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) (2017) Theo BIS, các khoản nợ tại các NH và các TCTD được phân thành 5 nhóm - Nợ đủ chuẩn: bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn. - Nợ cần chú ý: bao gồm những khoản nợ khách hàng có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ.
- Nợ dưới tiêu chuẩn: những khoản nợ đã quá hạn 3 tháng. - Nợ nghi ngờ: bao gồm những khoản nợ bị nghi ngờ về khả năng thu hồi và xác định là sẽ gây ra tổn thất. - Nợ có khả năng mất vốn: bao gồm nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Với cách phân loại nợ này, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn được xác định là nợ xấu.
Các tiêu chí phân loại nợ tại Việt Nam Theo văn bản hợp nhất 01/VBHN-NHNN (2014), hợp nhất 2 thông tư 02/2013/TT-NHNN và thông tư bổ sung số 09/2014/TT_NHNN, nợ được phân thành 5 nhóm gồm: - Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn - Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý - Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn - Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ - Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn Các tiêu chí xác định các nhóm nợ được xác định theo 2 phương pháp định lượng và định tính theo điều 10 và 11 văn bản hợp nhất 01/VBHN_NHNN 2014. Cũng theo văn bản này, nợ xấu được xác định là nợ nhóm 3,4,5. Trích lập dự phòng rủi ro 10 Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức: R = max {0,(A - C)} x r Trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích A: giá trị của khoản nợ C: giá trị của TSBĐ (sau khi nhân với tỷ lệ phần trăm tương ứng với từng loại TSBĐ (theo Quyết định 493) r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể Theo Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) (2017) Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro đối với các nhóm nợ như sau: - Nợ đủ chuẩn: 0% - Nợ cần chú ý: 0% - Nợ dưới tiêu chuẩn: 10% - Nợ nghi ngờ: 50% - Nợ có khả năng mất vốn: 100% Tại Việt Nam Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro đối với các nhóm nợ như sau: - Nợ đủ chuẩn: 0% - Nợ cần chú ý: 5% - Nợ dưới tiêu chuẩn: 20% - Nợ nghi ngờ: 50% - Nợ có khả năng mất vốn: 100% Việc phân loại và lập dự phòng gặp nhiều khó khăn về mặt lý thuyết và thực tế, các quốc gia có lựa chọn đa dạng cho hệ thống phân loại và lập dự phòng.
Trích lập dự phòng tại một số quốc gia Quốc gia Số lượng Quy định dự Ghi chú nhóm nợ phòng Đức 4 Dự phòng cụ 4 nhóm nợ bao gồm: thể - Cho vay không rủi ro - Cho vay có dấu hiệu rủi ro - Nợ có dấu hiệu không thu hồi được - Nợ xấu Ý 5 Tỷ lệ dự phòng 3 nhóm cuối lần lượt là 15%, 70%, 100% Nhật 5 Dự phòng cụ Không đưa ra quy định cụ thể thể Brazil 9 Dự phòng cụ 9 nhóm đưa ra bao gồm AA(0%), A thể (0,5%), B (1%), C (3%), D (10%), E (30%), F (50%), G (70%), H (100%) Mỹ 5 Dự phòng cụ Không đưa ra quy định cụ thể thể Argentina 5 Dự phòng Tỷ lệ dự phòng cho 5 nhóm lần lượt là chung và dự 1%, 3%, 12%, 75%, 100% phòng cụ thể Úc 5 Không đưa ra quy định cụ thể về lập dự 12 phòng Trung 5 Dự phòng Tỷ lệ dự phòng cho 5 nhóm lần lượt là Quốc chung và dự 1%, 3%, 25%, 75%, 100% phòng cụ thể Ấn Độ 4 Dự phòng Chia làm 2 nhóm cụ thể có đảm bảo chung và dự hoặc không có đảm bảo có tỷ lệ dự phòng cụ thể phòng khác nhau và linh hoạt Mexico 7 Dự phòng cụ 7 nhóm được phân loại dựa trên rủi ro thể quốc gia, rủi ro tài chính, rủi ro ngành và lịch sử thanh toán. Singapore 5 Dự phòng Trích lập dự phòng có 3 nhóm cuối tối chung và dự thiểu lần lượt là 10%, 50%, 100% phòng cụ thể Nga 4 Dự phòng Tỷ lệ trích lập dự phòng 3 nhóm cuối lần chung và dự lượt là 20%, 50%, 100%. phòng cụ thể Tây Ban 6 Dự phòng Tỷ lệ dự phòng chung 0,51% còn cho 3 Nha chung và dự nhóm cuối là 10%, 25 - 100%, 100% phòng cụ thể (Trích lý thuyết của Lauren và cộng sự (2002)) 1. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 1.
Nguyên nhân khách quan a. Nhóm nguyên nhân vĩ mô: 13 - Suy thoái kinh tế - chu kỳ kinh tế Sự phát triển kinh tế của từng quốc gia luôn tuân theo chu kỳ kinh tế gồm 3 giai đoạn chính là suy thoái - phục hồi - hưng thịnh. Trong giai đoạn suy thoái, sản xuất kinh doanh gặp nhiều trở ngại, việc trả nợ của khách hàng cho ngân hàng trở nên khó khăn, điều này dẫn đến Ngân hàng sẽ phải đối mặt với RRTD đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Như vậy, điều kiện kinh tế địa phương cùng với sự yếu kém của quản lý là nhân tố gây ra thiệt hại, rủi ro lớn cho các NHTM (Keeton và Morris, 1987) - Biến động môi trường kinh doanh Hệ thống Tài chính - Ngân hàng là hệ thống quan trọng nhất, trực tiếp chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của nền kinh tế.
Gần đây nhất là thời kỳ 2007 - 2008, nền kinh tế chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những tác động xấu của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát tăng cao dẫn đến giảm tốc độ phát triển của kinh tế, HĐKD của các tổ chức kinh tế gặp nhiều khó khăn. Điều này làm cho chất lượng tín dụng suy giảm, nợ xấu tăng cao.