Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam nghiên cứu ở ba nhóm ngành công nghiệp xây dựng và tài chính

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện của công ty niêm yết tại Việt Nam trong ngành xây dựng và tài chính.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

0.2. MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN

0.3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

0.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5. CÁC ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

0.6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1.1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN

1.2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

1.3. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

2.1.1. Tổng quan về công bố thông tin tự nguyện

2.1.2. Vai trò của công bố thông tin tự nguyện

2.2. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

2.2.1. Quy mô công ty

2.2.2. Tỷ số nợ trên tổng tài sản

2.2.3. Cấu trúc sở hữu vốn

2.2.4. Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không điều hành

2.3. LÝ THUYẾT ỦY NHIỆM

2.4. PHÂN CHIA NHÓM NGÀNH CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN HAI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.4.1. Phân ngành theo hệ thống ngành kinh tế HaSIC của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

2.4.2. Phân ngành các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN, QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

3.1.1. Phương pháp tiếp cận

3.1.2. Quy trình nghiên cứu

3.1.3. Xác định biến phụ thuộc: Mức độ công bố thông tin tự nguyện

3.1.4. Xác định các biến độc lập, cách thức đo lường biến độc lập

3.1.5. Giả thuyết nghiên cứu

3.1.6. Mô hình nghiên cứu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1.1. Danh mục thông tin tự nguyện

4.1.2. Kết quả nghiên cứu nhóm ngành công nghiệp

4.1.3. Kết quả nghiên cứu nhóm ngành xây dựng

4.1.4. Kết quả nghiên cứu nhóm ngành tài chính

4.2. SO SÁNH BA NHÓM NGÀNH: CÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG, TÀI CHÍNH VÀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

4.2.1. So sánh kết quả nghiên cứu ở ba nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và tài chính

4.2.2. So sánh với một số nghiên cứu trước

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kiến nghị đối với đối tượng công bố thông tin trên báo cáo thường niên

5.2. Kiến nghị đối với cơ quan Chính phủ ban hành văn bản pháp luật

5.3. Kiến nghị đối với Sở giao dịch chứng khoán Hà nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ chí minh

5.4. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính và quản trị doanh nghiệp. Việc công bố thông tin không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch mà còn tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công bố thông tin.

1.1. Khái niệm công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện là hành động mà các công ty niêm yết thực hiện để cung cấp thông tin cho các bên liên quan mà không bị yêu cầu bởi pháp luật. Điều này bao gồm các thông tin tài chính, phi tài chính và các thông tin khác có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư.

1.2. Tầm quan trọng của công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện giúp cải thiện tính minh bạch và tạo dựng lòng tin từ phía nhà đầu tư. Nó cũng giúp các công ty niêm yết nâng cao giá trị thương hiệu và thu hút nguồn vốn đầu tư.

II. Các thách thức trong công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam

Mặc dù công bố thông tin tự nguyện mang lại nhiều lợi ích, nhưng các công ty niêm yết tại Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này có thể ảnh hưởng đến quyết định công bố thông tin của họ.

2.1. Thiếu quy định rõ ràng về công bố thông tin

Nhiều công ty gặp khó khăn trong việc xác định thông tin nào cần công bố tự nguyện do thiếu quy định rõ ràng từ cơ quan quản lý. Điều này dẫn đến sự không đồng nhất trong việc công bố thông tin giữa các công ty.

2.2. Áp lực từ các cổ đông và nhà đầu tư

Các công ty niêm yết thường phải đối mặt với áp lực từ cổ đông và nhà đầu tư trong việc công bố thông tin. Sự không đồng nhất trong mong đợi của các bên liên quan có thể dẫn đến sự chần chừ trong việc công bố thông tin.

III. Phương pháp nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết. Các biến độc lập sẽ được phân tích để tìm ra mối liên hệ với mức độ công bố thông tin.

3.1. Các biến độc lập trong nghiên cứu

Nghiên cứu xác định các biến độc lập như quy mô công ty, tỷ số nợ trên tổng tài sản, và tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không điều hành. Những biến này sẽ được phân tích để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến mức độ công bố thông tin.

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu sẽ được thu thập từ báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp này đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết. Những phát hiện này có thể được áp dụng để cải thiện quy trình công bố thông tin trong tương lai.

4.1. Phân tích kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy quy mô công ty và tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Các công ty lớn thường có xu hướng công bố nhiều thông tin hơn để thu hút nhà đầu tư.

4.2. Ứng dụng kết quả vào thực tiễn

Các công ty niêm yết có thể sử dụng những phát hiện này để cải thiện quy trình công bố thông tin, từ đó nâng cao tính minh bạch và thu hút đầu tư.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Việc hiểu rõ những nhân tố này sẽ giúp các công ty cải thiện quy trình công bố thông tin trong tương lai.

5.1. Tóm tắt các phát hiện chính

Các phát hiện chính cho thấy rằng quy mô công ty và cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng lớn đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách hỗ trợ cho các công ty nhỏ hơn.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng ra các ngành khác và xem xét thêm các yếu tố như văn hóa doanh nghiệp và chính sách công bố thông tin của các công ty.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam nghiên cứu ở ba nhóm ngành công nghiệp xây dựng và tài chính

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về công bố thông tin, công bố thông tin tự nguyện ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Một nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng của Meek và cộng sự (1995) “Factors influencing voluntary annual report disclosures by U.

and continental european multinational corporation”, thực hiện ở các nước phát triển, được tham chiếu nhiều trong các nghiên cứu liên quan. Meek và cộng sự (1995) nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện và xây dựng một danh mục công bố thông tin tự nguyện dựa trên khảo sát ở Mỹ, Anh và một số nước Châu Âu. Danh mục được xây dựng trên 03 khía cạnh: thông tin chiến lược, thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Tác giả thảo luận, so sánh kết quả đạt được theo 03 cụm: nước Mỹ, Anh và các nước Châu Âu khác.

Kết quả cho thấy các nhân tố giải thích cho mức độ CBTT tự nguyện bao gồm 04 nhân tố: quy mô công ty, vùng địa lý, tình trạng niêm yết, và loại ngành công nghiệp mà công ty hoạt động. Khi phân tích về loại ngành công nghiệp, tác giả đưa vào 04 ngành công nghiệp: (1) ngành kim loại, vật liệu xây dựng, xây dựng, (2) ngành kỹ thuật, (3) ngành tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, (4) ngành dầu, hóa chất, khai thác mỏ. Kết quả phân tích, cho thấy đối với khu vực nước Mỹ thì 02 ngành là ngành kim loại, vật liệu xây dựng, xây dựng và ngành dầu, hóa chất, khai thác mỏ có mức công bố thông tin tự nguyện cao hơn 02 ngành còn lại. Đối với nước Anh thì ngành tiêu dùng, dịch vụ có mức độ CBTT tự nguyện cao hơn nhiều so với 02 ngành còn lại.

Kết quả này chứng tỏ là mức độ CBTT tự nguyện có sự khác nhau giữa các ngành nghề kinh doanh của các công ty. Mặc dù nghiên cứu có được những kết quả đáng chú ý, nhưng một hạn chế cho thấy mức độ giải thích của R2 ở mức 14 đến 46%, cần có thêm các biến giải thích cho mô hình, với dữ liệu, tác giả cho biết có thể cần thêm các biến độc lập liên quan đến cổ đông. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Về phương pháp thực hiện, Meek và cộng sự (1995) áp dụng mô hình hồi quy đa biến, phân tích 6 nhân tố tác động đến mức độ CBTT tự nguyện ở từng nhóm thông tin. Phương pháp thực hiện này là phù hợp cho mô hình nghiên cứu.

Trong phần trình bày kết quả nghiên cứu, tác giả cũng thể hiện rất đầy đủ về kết quả thống kê mức độ CBTT tự nguyện ở từng nhóm ngành của từng vùng khác nhau, thống kê kích thước mẫu, các chỉ số R2, mức ý nghĩa của từng nhóm ngành liên quan. Một nghiên cứu thực nghiệm tại nước Châu Á, là nghiên cứu của Chau và Gray (2002) “Ownership structure and corporate voluntary disclosure in Hong Kong and Singapore” về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu vốn và công bố thông tin tự nguyện tại Hồng Kông và Singapore. Để xây dựng chỉ số CBTT tự nguyện, tác giả đã dựa trên danh mục phát triển bởi Meek và bổ sung một số mục cụ thể hơn, việc trình bày danh mục đo lường mức độ CBTT tự nguyện được trình bày ở phụ lục của nghiên cứu. Theo quan điểm riêng của tác giả, các mục bổ sung là phù hợp, có thể công bố bởi công ty nhằm thể hiện rõ ràng tình hình của công ty với người sử dụng thông tin trên báo cáo.

Với phương pháp định lượng, tác giả cũng sử dụng mô hình hồi quy nhằm kiểm định mối liên hệ cấu trúc vốn ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Biến độc lập gồm 06 biến: quy mô công ty, đòn bẩy nợ, số lượng thành viên kiểm toán, cấu trúc sở hữu, lợi nhuận, mức độ đa dạng của ngành nghề kinh doanh. Kích thước mẫu ở Hồng Kông và Singapore lần lượt là 60 và 62 công ty niêm yết. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra trong mô hình hồi quy, với yêu cầu VIF cần nhỏ hơn 10.

Kết quả cho thấy cấu trúc sở hữu có yếu tố bên ngoài và quy mô đa dạng thì có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, ngược lại các công ty có yếu tố sở hữu nội bộ và sở hữu gia đình thì làm giảm chỉ số CBTT tự nguyện. Ngoài ra, tác giả còn xem xét ngành nghề của các công ty, 04 ngành kinh doanh đưa vào mô hình là: (1) thực phẩm và nước uống, (2) vận chuyển và giao thông vận tải, (3) thiết bị điện tử và công nghệ, (4) vật liệu xây dựng và xây dựng. Tuy không đi sâu phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- tích tác động của từng ngành nghề đến mức độ CBTT tự nguyện, nhưng kết quả cho thấy có sự tác động khác nhau giữa các ngành công nghiệp đến mức độ CBTT tự nguyện. Tuy nhiên, mức độ phù hợp của mô hình còn thấp, ở Hồng Kông, chỉ số R2 từ 22.5% đến 25%, ở Singapore từ 42,6% đến 64,9%.

Một nghiên cứu khác có liên quan của Xiao và Yuang (2007) với đề tài là “Ownership structure, board composition and corporate voluntary disclosure: Evidence from listed companies in China” được thực hiện khảo sát trên 559 công ty niêm yết tại Trung Quốc năm 2002. Việc tính chỉ số đo lường mức độ CBTT tự nguyện cũng tương tự các nghiên cứu trên. Sau đó, tác giả tập hợp từ các nghiên cứu trước đưa ra các giả thuyết liên quan đến mô hình. Các biến được đưa vào kiểm định: sở hữu của cổ đông lớn, sở hữu của nhà quản trị công ty, sở hữu của nhà nước, sở hữu của cá nhân, tình trạng niêm yết/sở hữu cổ đông nước ngoài, thành viên hội đồng quản trị độc lập, việc tách biệt vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc/giám đốc.

Kết quả cho thấy sở hữu cổ đông lớn và tình trạng niêm yết/sở hữu cổ đông nước ngoài là hai biến có liên quan đến công bố thông tin. Các biến còn lại có mối liên hệ thấp hoặc không có. Sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất OLS để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến. Đây cũng là phương pháp mà các nghiên cứu trước sử dụng, điều này được đánh giá là phù hợp cho nghiên cứu định lượng của tác giả.

Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến đạt được mức tin tưởng cao, VIF tối đa là 1. Tuy nhiên, đề tài cũng có hạn chế về mức R2 rất thấp, ở mức 9,7% cho thấy còn nhiều yếu tố khác chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu. Tác giả cũng cho thấy hạn chế khi thực hiện nghiên cứu trên các công ty niêm yết ở Shanghai, đại diện cho 45,7% các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Từ thực tế đòi hỏi thông tin nhiều hơn nhằm phục vụ cho các quyết định đầu tư, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt nam, do đó, những nghiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - cứu về CBTT được nghiên cứu tại Việt nam được thực hiện chủ yếu ở các công ty đại chúng niêm yết.

Hầu hết các nghiên cứu thực hiện theo phương pháp đo lường chỉ số công bố thông tin, đánh giá và kiểm định các nhân tố tác động đến CBTT, chất lượng công bố thông tin và các giải pháp hoàn thiện công bố thông tin ở các công ty niêm yết. Đối với công bố thông tin tự nguyện là một mảng đi sâu hơn dựa trên yêu cầu của thực tế, khi những thông tin bắt buộc công bố chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người sử dụng thông tin trên các báo cáo, chưa thiết lập đủ niềm tin khi sự tách biệt giữa người sở hữu và người quản lý. Mảng nghiên cứu về CBTT tự nguyện chưa được thực hiện nhiều tại Việt nam, tác giả nêu một số nghiên cứu liên quan. Lê Quang Bình (2012) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về CBTT tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Nghiên cứu xây dựng bảng danh mục các thông tin tự nguyện công bố dựa trên Luật doanh nghiệp 2005 và Luật chứng khoán Việt năm 2006, sau đó sử dụng bảng câu hỏi khảo sát ý kiến mức độ quan trọng của 92 nhà phân tích tài chính và 106 nhà quản lý tài chính. Hai kết quả nghiên cứu được đưa ra, là mức độ công bố thông tin của 199 công ty niêm yết được khảo sát và mức độ quan trọng của thông tin dựa trên hai quan điểm của nhà phân tích tài chính và nhà quản lý tài chính. Kết quả cho thấy ở một nước đang phát triển như Việt Nam, thì mức độ công bố thông tin về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp thấp, điều này tương tự như các nước phát triển khác (Nhật bản, Ireland). Ngoài ra, quan điểm của nhà phân tích tài chính và nhà quản lý tài chính gần như có một sự đồng thuận về tầm quan trọng của các khoản mục thông tin.

Nghiên cứu cho thấy các công ty cần cải thiện hơn trong việc xác định thông tin CBTT tự nguyện để đáp ứng và tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tìm các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Do đó, đề tài này được thực hiện cũng góp phần vào lĩnh vực công bố thông tin hiện nay. Nguyễn Thị Thu Hảo (2014) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 11 - công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ chí minh.

Để tính chỉ số CBTT tự nguyện, tác giả cho biết đã sử dụng danh mục tự tổng hợp dựa trên các nghiên cứu của nhiều tác giả được thực hiện ở các nước đang phát triển như Jordan, Nam Phi và Malaysia. Tuy nhiên, tác giả không ghi cụ thể cách tổng hợp như thế nào để có được 69 mục thông tin tự nguyện sử dụng để đối chiếu với thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ tài chính ban hành quy định về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ