CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm cơ cấu vốn và tác động của cơ cấu vốn đến doanh nghiệp 1. Khái niệm cơ cấu vốn doanh nghiệp Cơ cấu vốn của một doanh nghiệp, hay còn gọi là đòn bẩy tài chính, là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và VCSH theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (Stephen A.Westerfield và Bradford D.
Một cơ cấu vốn hợp lý phản ánh sự kết hợp hài hòa của các nguồn vốn riêng biệt trong điều kiện nhất định. Doanh nghiệp có cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí sử dụng vốn thấp và rủi ro ở mức có thể chấp nhận được. Cơ cấu vốn của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Đặc điểm riêng của doanh nghiệp, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, đặc điểm của thị trường tài chính, điều kiện kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia,… Do đó, mỗi doanh nghiệp sẽ có một cơ cấu vốn riêng, thậm chí trong cùng một doanh nghiệp, cơ cấu vốn thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, khi nghiên cứu cơ cấu vốn của doanh nghiệp phải nghiên cứu trong trạng thái động, chứ không thể nghiên cứu trong trạng thái tĩnh.
Cơ cấu vốn có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thực thi các chiến lược kinh doanh, hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Vì vậy mục tiêu của doanh nghiệp là hướng đến một cơ cấu vốn tối ưu mà ở đó chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị công ty là lớn nhất. Tác động của cơ cấu vốn đến doanh nghiệp - Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến tỷ suất lợi nhuận trên VCSH của doanh nghiệp: Thông thường, hiếm doanh nghiệp nào có tiềm lực tài chính đủ mạnh để tài trợ cho hoạt động kinh doanh hoàn toàn bằng VCSH, nên nợ vay sẽ được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn trong kinh doanh. Nợ vay được các doanh nghiệp sử dụng như một đòn bẩy nhằm gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên VCSH.
ROE = Thu nhập sau thuế / VCSH 8 Khi doanh nghiệp huy động vốn vay thì tiền lãi phải trả là một khoản chi phí tài chính cố định (bởi lãi suất vay vốn là cố định), nếu khoản lợi nhuận trước lãi vay và thuế do một đồng vốn tạo ra lớn hơn tiền lãi phải trả tính cho một đồng nợ vay thì sau khi trả lãi tiền vay, phần chênh lệch còn lại sẽ thuộc về chủ sở hữu. Cứ mỗi đồng vốn vay, chủ sở hữu lại được hưởng 1 phần chênh lệch tương ứng. Trong trường hợp thuận lợi này, càng sử dụng vay nợ nhiều, chủ sở hữu càng được hưởng lợi ích lớn hơn từ việc đi vay. Chủ sở hữu được hưởng cả phần lợi nhuận trước lãi vay và thuế do VCSH tạo ra và phần lợi nhuận trước lãi vay và thuế dôi ra do vốn vay tạo ra.
Trường hợp này, nợ vay tăng góp phần làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên VCSH cho chủ sở hữu. Ngược lại, trong trường hợp không thuận lợi, lợi nhuận do một đồng vốn tạo ra nhỏ hơn tiền lãi phải trả cho một đồng vốn vay, mà lãi tiền vay là nghĩa vụ tài chính cố định bắt buộc không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trong kỳ. Khi đó doanh nghiệp sẽ phải lấy một phần lợi nhuận của VCSH tạo ra để trả lãi vay cho chủ nợ. Trong trường hợp này, doanh nghiệp càng sử dụng nhiều vốn vay thì càng làm giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sổ hữu.
- Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp: Rủi ro tài chính bao gồm như: rủi ro biến động giá, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,. Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu rủi ro tài chính xuất phát từ lãi vay, liên quan trực tiếp tới việc lựa chọn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Như đã phân tích ở trên, một mặt việc sử dụng nợ vay có thể giúp doanh nghiệp gia tăng được tỷ suất lợi nhuận trên VCSH nhưng đồng thời làm tỷ suất này dao động lớn hơn, nên khả năng doanh nghiệp gặp phải rủi ro cao hơn. Mặt khác, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán cả nợ gốc và tiền lãi cho chủ nợ bất kể kết quả kinh doanh như thế nào.
Do vậy một sự gia tăng nợ của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc gia tăng thêm rủi ro tài chính. Nói cách khác cơ cấu nguồn vốn có ảnh hưởng tới rủi ro tài chính của doanh nghiệp. - Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp: Chi phí sử dụng vốn (hay giá sử dụng của một nguồn tài trợ nào đó) là tỷ suất lợi nhuận vốn cần phải đạt được từ các khoản đầu tư được tài trợ bằng nguồn vốn đã lựa chọn để có thể giữ cho thu nhập của VCSH không bị thay đổi (Bùi Văn Vần 2013, tr. 9 Doanh nghiệp sử dụng bất kỳ nguồn vốn nào, dù là vốn vay hay VCSH đều phải mất chi phí sử dụng vốn.
Công ty có cơ cấu nguồn vốn hợp lý thì chi phí sử dụng vốn thấp. - Chi phí sử dụng vốn vay là tỷ suất lợi nhuận tối thiểu phải đạt được do đầu tư bằng nguồn vốn vay để giữ cho tỷ suất lợi nhuận VCSH không đổi. Chi phí sử dụng vốn vay giống như lãi tiền vay phải trả. Khi xác định chi phí sử dụng vốn vay, người ta coi nó như là tỷ lệ chiết khấu làm cân bằng các khoản tiền mà doanh nghiệp phải thanh toán cho chủ nợ trong tương lai với khoản nợ vay mà doanh nghiệp sử dụng hôm nay.
- Chi phí sử dụng VCSH là tỷ suất lợi nhuận tối thiểu mà người đầu tư trù tính sẽ nhận được trên số vốn họ đóng góp. Một công ty cổ phần huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường thì khoản thu nhập trả cho người cung cấp vốn là lấy từ thu nhập sau thuế. Trong khi đó, nếu công ty sử dụng vốn vay, lãi tiền vay phải trả được coi là một khoản chi phí hợp lý và được trừ vào phần thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Như vậy, công ty phải nộp thuế thu nhập ít hơn so với trường hợp sử dụng tài trợ hoàn toàn bằng VCSH.
Đây là một lợi ích chủ yếu của việc sử dụng vốn vay. Khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ít hơn đó được các nhà kinh tế gọi là khoản tiết kiệm thuế hay “lá chắn thuế của lãi vay”. - Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến dòng tiền của doanh nghiệp: Dòng tiền của doanh nghiệp phản ánh sự vận động của tiền đi vào và tiền đi ra phát sinh từ các hoạt động trong một thời kỳ nhất định. Dòng tiền của doanh nghiệp bao gồm: Dòng tiền vào, dòng tiền ra và dòng tiền thuần.
Dòng tiền vào là các khoản tiền thu được từ vốn bổ sung bằng tiền mặt, đi vay vốn, phát hành chứng khoán, nhận vốn góp, bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ, thanh lý tài sản, rút vốn đầu tư. Dòng tiền ra là các khoản chi tiêu tiền của doanh nghiệp để đầu tư mua sắm tài sản, để thanh toán các hóa đơn mua nguyên vật liệu, mua công cụ, dụng cụ, chi sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hiểm, tiền đi lại, tiền hội họp, tiếp khách, trả lương, nộp thuế, nộp bảo hiểm, mua dịch vụ bên ngoài, các khoản phí trả chuyên gia, chi đào tạo và phát triển, trả tiền thuê tài sản, trả nợ vay, chi trả lãi vay, chi trả cổ tức. Dòng tiền thuần là dòng tiền chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp phát sinh trong một kỳ hoạt động. 10 Căn cứ theo hoạt động, dòng tiền của doanh nghiệp được phân theo 3 hoạt động, đó là hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
Doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu không tạo ra dòng tiền thuần dương. Nếu doanh nghiệp tạo ra dòng tiền thuần dương có thể coi như doanh nghiệp đã thành công. Dòng tiền của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố, một trong các nhân tố hết sức quan trọng chi phối đến dòng tiền là các quyết định tài chính. Xem xét cụ thể dòng tiền theo từng hoạt động sẽ có ích trong việc đánh giá việc tạo tiền và sử dụng tiền của doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh cho biết doanh nghiệp đã hoạt động kinh doanh thành công hay thất bại. Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư cho biết doanh nghiệp đã đầu tư cho cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh như thế nào. Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính cho biết doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn nào để tài trợ cho các hoạt động đầu tư và hoạt động đầu tư đó có hiệu quả hay không. Việc thay đổi quy mô và kết cấu của VCSH và vốn vay sẽ làm thay đổi dòng tiền từ hoạt động tài chính, từ đó tác động đến dòng tiền thuần của doanh nghiệp.
Việc vay nợ sẽ tác động đến dòng tiền trả nợ, việc phát hành cổ phiếu sẽ tăng VCSH và tạo tiền cho doanh nghiệp. Trong quyết định về cơ cấu vốn, doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn hoặc là vay nợ đáp ứng nhu cầu vốn, hoặc sự an toàn về dòng tiền của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đo lường cơ cấu vốn của doanh nghiệp Cơ cấu vốn của doanh nghiệp được xem xét qua mối quan hệ giữa nợ phải trả và VCSH. Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau (PGS.
Nguyễn Đình Kiệm - TS. Bạch Đức Hiển, 2008, tr.237): - Hệ số nợ: Hệ số nợ cho biết trong một đồng vốn mà doanh nghiệp huy động được có bao nhiêu đồng được huy động từ các khoản nợ phải trả. Công thức xác định: Nợ phải trả Hệ số nợ = Tổng tài sản Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua hệ số nợ. Nó thể hiện việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong cơ cấu vốn.
Doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ bị phụ thuộc nhiều vào nợ vay, khi đó tính độc lập, tự chủ thấp. Ngược lại doanh nghiệp sử dụng càng ít nợ vay thì tính độc lập, tự chủ càng cao hơn.