mở đầu cho dự án hội tụ các chuẩn mực kế toán quốc tế vào tháng 9/2002,. Mục tiêu của dự án nhằm giảm thiểu sự khác biệt trong các chuẩn mực do hai tổ chức này ban hành, trong đó bao gồm cả chuẩn mực về báo cáo bộ phận. IASB khẳng định SFAS 131 có một số điểm rõ ràng hơn hẳn IAS 14. Năm 2005, IASB quyết định điều chỉnh IAS 14 cho phù hợp với SFAS 131 và áp dụng theo định hướng quản trị cho việc thiết lập các bộ phận cần báo cáo và các thông tin cần trình bày.
IASB cũng cho rằng điều này sẽ giúp giảm chi phí của việc công bố các thông tin bộ phận bởi vì các thông tin trình bày cũng chính là thông tin được ban quản trị sử dụng cho việc ra quyết định. Dự án được tiến hành từ năm 2002 cho đến năm 2006 đã ban hành bản dự thảo IFRS 08 về báo cáo bộ phận. IFRS 08 về báo cáo bộ phận được chính thức ban hành vào tháng 11/2006, và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009. b) Nguyên tắc chính Một công ty sẽ trình bày thông tin để giúp người sử dung thông tin trên BCTC đánh giá được bản chất và tác động về mặt tài chính của hoạt động kinh doanh mà nó thực hiện và môi trường kinh tế mà nó hoạt động.
c) Phạm vi áp dụng IFRS 08 được áp dung cho: - BCTC riêng hay BCTC của một công ty mà: Có các công cụ nợ hoặc công cụ vốn được trao đổi trên thị trường chứng khoán nội địa hoặc nước ngoài hoặc thị trường OTC tại địa phương hoặc trong khu vực; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Đã nộp hồ sơ hoặc đang trong quá trình chuẩn bị đăng ký với trung tâm chứng khoán hoặc các cơ quan/ tổ chức pháp quy cho mục đích phát hành bất cứ loại công cụ tài chính ra công chúng. - Báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn mà công ty mẹ: Có các công cụ nợ hoặc công cụ vốn được trao đổi trên thị trường chứng khoán nội địa hoặc nước ngoài hoặc thị trường OTC tại địa phương hoặc trong khu vực; Đã nộp hồ sơ hoặc đang trong quá trình chuẩn bị đăng ký với trung tâm chứng khoán hoặc các cơ quan/ tổ chức pháp quy cho mục đích phát hành bất cứ loại công cụ tài chính ra công chúng. Chuẩn mực kế toán Việt nam (VAS 28) – Báo cáo bộ phận a) Lịch sử hình thành Theo Quyết đinh số 12/2005/QĐ-BTC ngày 12/05/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được ban hành và công bố sáu Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (đợt 4) trong đó bao gồm Chuẩn mực kế toán Việt Nam ( VAS28) về BCBP có hiệu lực thi hành từ ngày 23/03/2005. Tiếp sau đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 20/2006/TT-BTC nhằm hướng dẫn kế toán thực hiện các chuẩn mực kế toán nêu trên áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế trong cả nước.
b) Mục đích của VAS 28 Chuẩn mực này quy định nguyên tắc và phương pháp lập và trình bày BCBP theo lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý khác nhau của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ thông tin cần thiết cho người sử dụng thông tin: - Hiểu rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp - Đánh gía đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp - Đưa ra những đánh giá hợp lí về doanh nghiệp cần thiết cho người sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Các doanh nghiệp cung cấp các nhóm sản phẩm và dịch vụ hoặc hoạt động trong các khu vực địa lý khác nhau có tỷ lệ sinh lời, cơ hội tăng trưởng, triển vọng và rủi ro khác nhau. Thông tin về các lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý khác nhau được gọi là thông tin bộ phận. Thông tin bộ phần cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp có nhiều lĩnh vực kinh doanh doanh hoặc hoạt động trong phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Thông tin bộ phận cũng cần thiết cho người sử dụng.
c) Phạm vi áp dụng Đối tượng mà chuẩn mực này áp dụng là các doanh nghiệp có chứng khoán đang phát hành hay trao đổi công khai trên thị trường chứng khoán. Chuẩn mực cũng khuyến khích áp dụng đối với các doanh nghiệp không phát hành hoặc không có chứng khoán trao đổi công khai. Đối với các doanh nghiệp không phát hành hoặc không có chứng khoán trao đổi công khai trên thị trường chứng khoán mà tự nguyện trình bày BCBP thì phải tuân thủ những nguyên tắc được quy định trong chuẩn mực này.3 So sánh IFRS 8 với VAS 28 a) Về các định nghĩa Bên cạnh báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin cho hoạt động đầu tư nhận thấy sự cần thiết của một loại báo cáo khác, trong đó cung cấp những thông tin được phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh hoặc khu vực địa lý, đặc biệt là khi họ muốn đầu tư vào một công ty đa ngành, hoạt động kinh doanh các nhóm sản phẩm và dịch vụ hoặc hoạt động trong các phạm vi địa lý khác nhau có khả năng sinh lời, tốc độ tăng trưởng, khả năng và mức rủi ro khác nhau. Đó là lý do cho sự ra đời của báo cáo bộ phận, bao gồm những thông tin bộ phận được quy định ở cả VAS 28 và IFRS 08 (thay thế cho IAS 14 từ 01/01/2009) VAS 28 yêu cầu các công ty cổ phần phát hành chứng khoán hoặc đang trong quá trình chuẩn bị phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán cần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 trình bày thông tin về các bộ phận hoạt động theo từng lĩnh vực kinh doanh hay theo từng khu vực địa lý của mình trong thuyết minh báo cáo tài chính.
VAS 28 định nghĩa một bộ phận cần báo cáo trong thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hoạt động theo lĩnh vực kinh doanh hoặc một bộ phận hoạt động theo phạm vi địa lý được xác định dựa trên các tiêu chí sau: - Bộ phận hoạt động theo lĩnh vực kinh doanh là một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc các dịch vụ có liên quan (về tính chất của hàng hóa và dịch vụ, tính chất của qui trình sản xuất, kiểu hoặc nhóm khách hàng, phương pháp phân phối sản phẩm, điều kiện của môi trường pháp lí mà bộ phận này có thuận lợi và khó khăn về mặt kinh tế khác với các bộ phận hoạt động kinh doanh khác). IFRS 08 xác định bộ phận cần báo cáo không nhất thiết là bộ phận hoạt động theo lĩnh vực kinh doanh hay hoạt động theo khu vực địa lí như VAS 28 mà là các bộ phận hoạt động kinh tế có thể tạo ra doanh thu hoặc phát sinh chi phí, có các thông tin tài chính riêng biệt cho chúng và kết quả hoạt động của chúng thường xuyên được các nhà quản lý xem xét để ra quyết định quản lý điều hành hoạt động. Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành về báo cáo bộ phận. Cụ thể, trong VAS không đề cập khái niệm “bộ phận hoạt động” mà chỉ đề cập các tiêu chí để xác định “bộ phận cần báo cáo” theo khu vực địa lý lĩnh vực kinh doanh như đã đề cập ở trên.
Trình bày BCBP lĩnh vực kinh doanh hay theo khu vực địa lý hay trình bày cả theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý sẽ được ban giám đốc xem xét phụ thuộc theo mục đích lập báo cáo ( VAS 28 đoạn 12). IFRS 08(5-11) trình bày một cách chi tiết về bộ phận hoạt động. Theo đó, những bộ phận hoạt động không chỉ bó hẹp ở việc xác định theo các tiêu chí về khu vực hay lĩnh vực, mà được mở rộng ra là một thành phần của thực thể kinh tế: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 - Liên quan đến hoạt động kinh doanh mà từ đó tạo ra doanh thu và chi phí gánh chịu (bao gồm cả doanh thu và chi phí liên quan đến các giao dịch với các bộ phận khác trong cùng một công ty). - Kết quả hoạt động thường xuyên được xem xét bởi người phụ trách việc ra quyết định (được xem là một chức năng hơn là một chức vụ của cá nhân riêng lẻ) “entity’s chef operating decision maker” để ra quyết định về sử dụng và phân bổ nguồn lực tới từng bộ phận và đo lường đánh giá thành quả thực hiện của bộ phận.
- Thông tin tài chính riêng của bộ phận luôn có sẵn. IFRS 08 cũng chỉ ra ngoại lệ cho bộ phận hoạt động liên quan đến hoạt động kinh doanh, kể cả khi nó chưa tạo được doanh thu, ví dụ như hoạt động khởi nghiệp, khởi động “start-up” có thể là bộ phận hoạt động trước khi tạo ra doanh thu.Và ngược lại không phải bộ phận nào tạo ra doanh thu/ hoặc tạo ra chi phí cũng được xem là bộ phận kinh doanh , chẳng hạn như một đơn vị nghiên cứu và phát triển làm phát sinh chi phí nhưng không tạo ra doanh thu thì nó không phải là bộ phận kinh doanh. Tương tự như vậy, trụ sở công ty có thể không tạo ra doanh thu hoặc có thể tạo ra doanh thu mà chỉ là phần phụ đối với hoạt động của doanh nghiệp và do đó sẽ không được coi là một bộ phận kinh doanh. Trong khi VAS 28 vẫn còn tuân theo các nguyên tắc cơ bản của IAS 14, thì IFRS 08 đã đi tới một bước phát triển mới, cũng đồng thời tiến sát hơn với quy định về báo cáo bộ phận của Mỹ.
Nếu VAS 28 chủ yếu quy định việc thực hiện báo cáo bộ phận chủ yếu tuân theo nguyên tắc kế toán thì IFRS hướng tới việc quản trị công ty nhiều hơn khi xác định bộ phận hoạt động không chỉ đơn thuần theo chuẩn mực cũ mà có thể theo tiêu thức nào đó phù hợp với việc ra quyết định phân bổ và đánh giá của nhà quản lý. Nói một cách khác, góc nhìn của IFRS 08 là góc nhìn từ phía nhà quản lý doanh nghiệp, còn VAS 28 được xem xét ở góc độ tuân thủ các chuẩn mực về báo cáo tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.