CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về cầu GDĐH để làm cơ sở cho các mô hình định lượng của Luận án. Chương này bắt đầu bằng việc trình bày một số khái niệm liên quan đến cầu về GDĐH nhằm thống nhất về nội hàm các thuật ngữ then chốt đưược sử dụng xuyên suốt Luận án. Sau phần trình bày cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu các dạng cầu khác nhau về GDĐH của HGĐ, Chương sẽ tổng quan những công trình nghiên cứu định lượng cập nhật về cầu GDĐH làm cơ sở xác định khoảng trống cho đề tài nghiên cứu. Một số khái niệm liên quan đến cầu về giáo dục đại học của hộ gia đình Phần này trình bày các khái niệm, định nghĩa chính gần như được đề cập suốt trong nghiên cứu nhằm cung cấp một cơ sở chung cho việc giải thích mối quan hệ giữa các biến được nghiên cứu.
Giáo dục đại học và cầu về giáo dục đại học 1. Giáo dục đại học và đặc trưng của giáo dục đại học Có nhiều khái niệm khác nhau về GDĐH. Trong Luận án này, GDĐH được xem xét như một nền tảng giáo dục ở trình độ cao. GDĐH diễn ra sau giáo dục trung học, và được tổ chức thực hiện ở các đại học, trường đại học, học viện hay các viện công nghệ - gọi chung là các cơ sở GDĐH.
GDĐH được coi là một trong những nhiệm vụ cần thiết quan trọng để đào nguồn nhân lực có chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, có khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một minh chứng là bất kỳ một xã hội nào cũng cần có GDĐH, chẳng hạn Vệt Nam đã có trường đại học cách đây hàng ngàn năm. Một trong các đặc trưng quan trọng của GDĐH từ phía người học ngày nay là: người học sau khi đã tốt nghiệp trung học phổ thông đã tiếp tục học đại học thay vì đi học nghề hay đi làm để kiếm thêm thu nhập (trong Luận án này được gọi chung là đối tượng tham gia TTLĐ). Đây là đặc trưng quan trọng mà người nghiên cứu có nhiệm vụ tìm hiểu những nhân tố nào tác động đến các quyết định này và mô hình kinh tế - kinh tế lượng nào có thể làm sáng tỏ sự lựa chọn này.
GDĐH theo lý thuyết kinh tế có thể xem hàng hóa tiêu dùng (tiêu dùng tư hay tiêu dùng công) và là hàng hóa đầu tư Stiglitz (1974)). Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, T 21 of 98. 11 Với quan niệm như vậy thì về mặt logic phải xem xét hai khía cạnh: thứ nhất, nêu xem GDĐH là hàng hóa tiêu dùng công thì do tính lan tỏa về tri thức của người tốt nghiệp đại học- xã hội được hưởng lợi và nhà nước cần phải phân bổ ngân sách đầu tư cho nó. Mặt khác nếu xem xét GDĐH là hàng hóa đầu tư để cho năng suất và hiệu quả cao hơn so với khi không đầu tư thì phải xét đến và trò của người có cầu về GDĐH.
Trong đó, cần xem xét cả cầu theo học ở các trường ĐHCL và ĐHTT. Cầu GDĐH mà Luận án xem xét là cầu GDĐH cho tất cả các HGĐ trong toàn quốc. Do tính không đồng phương sai về thu nhập, Luận án cũng phải xét cầu GDĐH cho các tầng lớp dân cư có thu nhập khác nhau. Cầu giáo dục đại học của hộ gia đình Như đã biết GDĐH được xem là môi trường giáo dục ở cấp cao hơn bậc trung học phổ thông, cung cấp kiến thức chuyên sâu theo ngành, nghề mà sinh viên lựa chọn để tạo ra người có khả năng chuyên môn cao có thể đáp ứng yêu cầu cao của xã hội.
Đào tạo tại bậc đại học chỉ dành cho những học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông, người đang có những nhu cầu và có đủ điều kiện tham gia học tập. Vậy cầu GDĐH là cầu dịch vụ từ môi trường GDĐH để tạo ra sản phẩm là con người tốt nghiệp đại học, có khả năng chuyên môn cao. Cầu về GDĐH khác cầu hàng hóa thông thường ở chỗ người tiêu dùng cầu hàng hóa thông thường bằng cách bỏ tiền ra mua hàng hóa (chẳng hạn mua ti vi) về để sử dụng khả năng sử dụng của nó (xem ti vi), trong khi đó, cầu GDĐH là việc HGĐ (Chủ hộ) đầu tư cho con/em mình (sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông) theo học ở các trường đại học để học lấy kiến thức, trở thành người có chuyên môn cao, sau này sử dụng cho những công việc cần tay nghề, kiến thức chuyên sâu và đi kèm theo đó là mức độ đãi ngộ kỳ vọng cũng cao hơn. Quan niệm này thể hiện trong nhiều nghiên cứu trên thế giới và xuyên suốt trong luận án thông qua các bài toán cực đại lợi ích của Chủ hộ và rút ra các hàm cầu khác nhau.
Trong phân tích định lượng, Luận án tập trung vào cầu giáo dục ở cấp độ HGĐ nên sẽ giới thiệu qua đặc trưng của bộ số liệu VHLSS. Do đặc trưng của bộ số liệu (VHLSS, Luận án giả thiết rằng mỗi một HGĐ có một người ra quyết định (giống như Beneito và cộng sự 2001). Người ra quyết định căn cứ vào hàm lợi ích của mình để ra các quyết định về cầu đại học trên cơ sở lựa chọn giữa các hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa giáo dục hay giữa hàng hóa giáo dục và TTLĐ trong ràng buộc ngân sách của HGĐ. Trong số liệu VHLSS thì người ra quyết định đó sẽ là Chủ hộ.
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, T 22 of 98. 12 Chủ hộ đứng trước tình huống con/em mình tốt nghiệp trung học phổ thông có thể rất mong muốn cho con/em mình vào đại học theo truyền thống (cầu mong muốn) nhưng các ràng buộc về tài chính và các ràng buộc khác có thể khiến Chủ hộ quyết định giành phần chi tiêu của hộ cho con/em đi đại học hay không (cầu thực tế). Những quan niệm kinh tế này dẫn ta đến phải suy nghĩ nhận dạng các loại cầu này cũng như những nhân tố tác động đến các loại cầu này như thế nào. Như vậy nghiên cứu cầu GDĐH chúng ta phải đề cập đến khái niệm liên quan.
Khái niệm và một số đặc điểm của hộ gia đình Khái niệm HGĐ được ghi nhận tại Điều 106 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó: “HGĐ mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”. TCTK đã cụ thể hóa khái niệm HGĐ trong VHLSS. HGĐ là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quĩ thu chi. Thời gian 12 tháng qua tính từ thời điểm tiến hành phỏng vấn trở về trước (Nguồn: GSO.
- Người ra quyết định của HGĐ: để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cầu đại học của HGĐ như đã định nghĩa ở trên, ta giả định mỗi HGĐ có tồn tại một ‘người ra quyết định’ (có thể cha, mẹ, anh, chị hoặc người giám hộ) mà ta gọi là Chủ hộ. Giả thiết Chủ hộ là người hợp lý và sẽ quyết định cho con/em họ đi học đại học hay không trên cơ sở những điều kiện nhất định. Chủ hộ • Khái niệm Chủ hộ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ. Thông thường (nhưng không nhất thiết) Chủ hộ là người có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên khác của hộ.
Đa số Chủ hộ theo khái niệm này trùng với Chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng cũng có Chủ hộ khác với Chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu. Chủ hộ trong Luận án này ngoài việc là người đại diện cho HGĐ mà nghiên cứu này còn giả thiết Chủ hộ có hàm lợi ích của mình đại diện cho HGĐ. Luận án cũng giả thiết Chủ hộ đưa ra các quyết định sao cho tối đa hóa lợi ích của mình trong điều kiện ngân sách của hộ cho phép, thí dụ như quyết định cho con/em của hộ đi học. Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, T 23 of 98.
13 • Giả thiết về hành vi của Chủ hộ Nghiên cứu này xây dựng hàm cầu thực nghiệm từ giả định rằng Chủ hộ là người có hàm lợi ích đại diện cho gia đình và tìm cách cực đại lợi ích khi tiêu dùng hàng hóa thông thường và hàng hóa giáo dục cũng như cực đại lợi ích khi lựa chọn giữa việc cho con/em đi học đại học hoặc không cũng như cực đại lợi ích khi lựa chọn giữa trường ĐHCL hay trường ĐHTT và không cho con đi học đại học. Một số đặc điểm nhân khẩu học • Ngân sách của hộ Ngân sách của HGĐ (thu nhập) được định nghĩa là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật của hộ mà các thành viên của hộ kiếm được trong một thời gian nhất định (thường là một năm- như trong VHLSS). Các HGĐ khác nhau có hoàn cảnh khác nhau. Có những hộ làm trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, hoặc có những hộ thuần công chức, có những hộ làm trong lĩnh vực nông-lâm- ngư nghiệp, các thành viên của hộ cũng đều làm trong lĩnh vực này.
Thực tế ở nông thôn Việt Nam nhiều hộ làm trong lĩnh vực nông-lâm- ngư nghiệp nhưng chỉ có một số thành viên của hộ làm trong lĩnh vực này, còn những thành viên khác có thể làm kinh doanh dịch vụ hay làm công ăn lương.