Chương 1 – Những con số tổng quan Chương 2 – Các cuộc nổi dậy của nông dân Chương 3 – Các cuộc nổi dậy của tộc ngƣời thiểu số Chương 4 – Các cuộc nổi dậy của quan lại, nhân sĩ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com C n 1 NHỮNG CON SỐ TỔNG QUAN Theo thống ê chƣa đầy đủ theo Đại Nam thực lục - bộ chính sử chính thức của nhà Nguy n, 20 năm dƣới triều Minh Mạng có 209 cuộc nổi dậy3, gấp 2,9 lần triều Gia Long (73 cuộc), gấp 3,6 lần triều Thiệu Trị (58 cuộc). Bình quân nổi dậy của toàn triều Nguy n là 6,75 cuộc/năm tổng số 405 cuộc theo thống ê chƣa đầy đủ từ 1802 đến 1862), bình quân dƣới triều Minh Mạng là 10,5 cuộc/năm. Các cuộc nổi dậy nổ ra liên tục trong toàn bộ 20 năm từ 1820 -1840, trong đó di n biến căng thẳng nhất vào hai năm 1833 50 cuộc) và 1834 (38 cuộc). Trừ tỉnh Vĩnh Long, 29 tỉnh và 1 phủ đều có nổi dậy, tập trung lớn tại Sơn Tây và Thanh Hoá (đều 23 cuộc).
Cuộc nổi dậy quy mô nhất là nổi dậy của Lê Văn Khôi 1833-1835) làm biến đổi cục diện tình trạng quyền lực của vùng đất Nam Bộ. Với việc đàn áp thành công lực lƣợng Lê Văn Khôi, triều Minh Mạng chính thức chấm dứt thời kỳ phân quyền của chính quyền Gia Định.1 Theo không gian Trong tổng số 209 cuộc nổi dậy, Đàng Ngoài cũ có 148 cuộc, Đàng Trong cũ là 61 cuộc. Tỷ lệ giữa hai vùng là 2,4 : 1 (xem Phụ lục - Bảng thống kê và phân bố các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng (1820-1840). Từ Quảng Bình trở ra Bắc, các cuộc nổi dậy xuất hiện dày đặc và liên tục trong 20 năm; hai tỉnh Sơn Tây và Thanh Hoá có số cuộc nổi dậy nhiều nhất 23 cuộc mỗi tỉnh).
Từ Quảng Trị trở vào Nam, nổi dậy phân bố rải rác, lẻ tẻ; cá biệt khu vực Bình Thuận, Gia Định, Định Tƣờng, Biên H a, An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên từ 1820 đến 1832 không có bất kỳ cuộc nổi dậy nào. Các tỉnh phía Nam Trung Bộ từ Quảng Nam đến Bình Thuận là khu vực nổi dậy chủ yếu, cao nhất là tỉnh Bình Thuận với tổng số15 cuộc (xem Phụ lục - Biểu thống kê và phân bố các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng (1820- 1840) Tại Đàng Ngoài cũ, nổi dậy di n biến theo nhóm, phân tán rộng ra các tỉnh lân cận, tập trung tại ba khu vực chính: vùng miền núi phía Bắc với Sơn Tây là 3 Nguy n Phan Quang đƣa ra con số thống kê là 230 cuộc khởi nghĩa. Xin xem [39] 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung tâm, vùng đ ng bằng châu thổ sông H ng, Bắc Ninh là trung tâm, và vùng Thanh-Nghệ với Thanh Hoá làm trung tâm. Tại Đàng Trong cũ, nổi dậy hông đ ng đều và dƣờng nhƣ có sự độc lập nhất định giữa các tỉnh.
Địa bàn vùng núi chiếm số lƣợng nổi dậy lớn hơn, tại lâm phận các tỉnh phía Nam Trung Bộ. Do ảnh hƣởng của khu vực phiên thuộc Trấn Tây Thành mới lập vào những năm cuối triều đại - các cuộc nổi dậy tập trung vào tỉnh Hà Tiên trong cùng khoảng thời gian. Riêng khu vực đ ng bằng sông Cửu Long, bao g m Gia Định, Định Tƣờng, Biên H a, An Giang, Vĩnh Long, vì quy mô nổi dậy quá lớn, những nhận định giả thiết dựa trên con số cơ học dƣờng nhƣ hông có ý nghĩa phản ánh đối với tình trạng nổi dậy thật sự của khu vực này. T o ờ n Về di n biến thời gian, mốc năm 1833 là năm bùng phát nổi dậy với hàng loạt cuộc đấu tranh quy mô so với cả triều Nguy n: nổi dậy Lê Văn Khôi, nổi dậy Nông Văn Vân, nổi dậy của Lê Duy Lƣơng và họ Quách, nổi dậy của Ba Nhàn-Tiền Bột.
Năm 1833 cũng trở thành mốc đánh dấu tình trạng xã hội trở nên căng thẳng hơn dƣới triều Minh Mạng: trƣớc 1833, nổi dậy thấp nhất là 2 cuộc/năm, sau 1833 phát triển lên 6 cuộc/năm. Ngoài ra ta cũng lƣu ý đến các năm có số cuộc lên cao nhƣ 1822, 1834, 1837, 1840. xem Biểu đ 2) 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com V n p n l l n m Về thành phần khởi xƣớng, có 4 nhóm cơ bản với tỷ lệ tham gia khác nhau: Tổng Nông dân Quan lại Tộc ngƣời thiểu số Tù phạm (quan Kinh) thổ quan, thổ dân) 209 96 18 90 5 Biểu đồ 3: Lực lượng nổi dậy 3% Nông dân 39% 48% Quan lại (người Kinh) Tộc người thiểu số (thổ quan+thổ dân) 10% Tù phạm Lực lƣợng tham gia nổi dậy c n đa dạng hơn với các lực lƣợng nhƣ lính, phu mỏ, quân Xiêm-Lào. Con số tổng lớn hơn tổng số cuộc nổi dậy do cùng một cuộc nổi dậy có thể có từ hai đến ba lực lƣợng cùng tham gia.
Tổng Nông dân Tù phạm Lính Thổ binh, Quân Phu thổ dân Xiêm-Lào mỏ 232 137 7 3 84 1 1 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 V lý do nổi dậy Nhận định của các sử quan trong các bộ chính sử thể hiện ý iến của triều đình về nguyên nhân của các cuộc nổi dậy. Theo triều Minh Mạng, nổi dậy có các nguyên nhân cơ bản sau: nổi dậy phù Lê, nổi dậy có mƣu hởi loạn và nổi dậy là cƣớp phá. Nổi dậy phù Lê có 3 cuộc4, g m nổi dậy của Quách-Lƣơng Thanh Hoá-Ninh Bình), nổi dậy của cai đội Phạm Doãn Dũng liên ết các lang đạo họ Đinh Sơn Tây), nổi dậy của Trần Hữu Thƣờng, suy tôn Lê Duy Độ làm minh chủ Hƣng Yên). Hầu hết các cuộc nổi dậy đều thuộc khu vực Đàng Ngoài cũ.
Nổi dậy do bất đắc chí đem lòng oán vọng hoặc mưu khởi loạn/không phục có 13 cuộc, nhƣ: nổi dậy của Trần Lê Quyền Sơn Tây), Xa Văn Nhị Hƣng Hóa), Phan Bá Vành Nam Định), Ba Nhàn –Tiền Bột Vĩnh Phúc), Lê Văn Khôi Gia Định), Nông Văn Vân Tuyên Quang-Cao Bằng-Lạng Sơn), Lê Văn Khoa (Lạng Sơn), Thiệu Xá Ly (Nghệ An), dân Man (Bình Hòa-năm 1825), Trần Danh Nguyên (Nghệ An), Nguy n Đình Thể (Thái Nguyên). Nổi dậy vì bất tuân quyền lực chủ yếu nổ ra tại các tỉnh miền núi, lâm phận của tỉnh trung du, hoặc đ ng bằng ven 4 Có ý kiến cho rằng nổi dậy Nông Văn Vân cũng giƣơng cờ Phù Lê. Nếu giả thiết là đúng, tổng số sẽ có 4 cuộc nổi dậy lấy cớ phù Lê. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biển mới khai, tại phủ kimi hoặc tại vùng trấn thành.
Các cuộc nổi dậy di n ra tại cả Đàng Ngoài cũ và Đàng Trong cũ, hông phân biệt ngƣời Kinh và ngƣời thiểu số. Tuy nhiên, cần lƣu ý về thành phần khởi xƣớng; ở đây lực lƣợng lãnh tụ nổi dậy hầu hết có xuất thân cai đội, thổ tù và nông dân. Xuất thân quan lại cao nhất tại chức Quản cơ, hàm Tứ phẩm của Nguy n Văn Thừa trong vụ mƣu liên ết Lê Văn Khôi, song chức vụ này là do đặc cách đối với hoàng thân của vua Champa khi vua nhằm giữ yên nhóm ngƣời Thổ, vốn gốc Champa, thuộc trấn Bình Thuận, khi trấn Thuận Thành chính thức chuyển thành phủ Ninh Thuận, bắt đầu bãi thổ quan đặt quan Kinh cho “dần thành thói Kinh” [45, tr. Nhƣ vậy, c n lại phần lớn các cuộc nổi dậy không có lý do rõ ràng.
Qua hình thức nổi dậy, chúng tôi phân ra hai loại nổi dậy chủ yếu: bạo động chống đối chính quyền tỉnh/phủ/huyện, hoặc đơn thuần là cƣớp bóc, quấy nhi u. Tuy nhiên trên thực tế, vây phủ lỵ, cướp thành/bảo/huyện, bắt/giết tri huyện, thổ lại mục… cũng gắn liền với cƣớp lƣơng, đốt nhà, hoặc ngƣợc lại vì nhằm cướp bóc mà cũng chiếm đ n trại, giết hại cai đội, lính Kinh dân Kinh, đốt nhà. Cũng cần lƣu ý rằng, các ghi chép của chính sử phụ thuộc vào nhận định của sử quan, căn cứ phần lớn theo báo cáo do quan tỉnh tập hợp từ địa phƣơng và trở nên phù hợp với quan điểm của triều đình sau vài lần kiểm định. Tính chất cƣớp bóc của các cuộc nổi dậy chống triều đình có thể đƣợc nhấn mạnh hơn.
Có một chi tiết cần nhắc đến, là hầu hết các chủ soái của tàn quân, vì lẩn trốn trong dân gian mà triều đình gọi chung tên là giặc trốn, đều mang thêm một tội cƣớp: cướp lương, tống lương, đòi dân đưa tiền, lương một cách miệt thị, thậm chí còn chú thêm cướp ban ngày, nhƣ đ đảng của Phan Bá Vành, Quách Tất Công… thì tội vì đói mà cƣớp ngày - càng ám chỉ những lực lƣợng trên dù giƣơng cờ chính nghĩa chống triều đình thì cũng chỉ là tập hợp của các nhóm trộm cƣớp mà thôi. Sự mập mờ nằm ở chỗ, sự việc cƣớp lƣơng đƣợc ghi với ngầm ý là cƣớp của dân thƣờng thay vì chỉ rõ cƣớp của nhà địa chủ, cƣờng hào hay của thành phần nào khác. Lãnh đạo của các cuộc chống đối chính quyền bao g m các thổ tù, quan ngƣời Kinh và nông dân. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Số cuộc nổi dậy cƣớp bóc, vây phủ lỵ, cƣớp thành/bảo/huyện… lên tới 101 cuộc với thành phần chủ yếu là nông dân và tộc ngƣời thiểu số (chính sử gọi chung là giặc).
Hình thức nổi dậy này tập trung trên ba khu vực lớn. Một là vùng từ Nghệ An trở ra bắc, g m các tỉnh đ ng bằng và miền núi nhƣ: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Sơn Tây, Hƣng Hóa, Bắc thành trƣớc cải cách hành chính năm 1831-1832, danh từ Bắc thành dùng song song với các tỉnh trực thuộc), Bắc Ninh. Nổi dậy tại khu vực này thƣờng gắn liền với các hình thức cƣớp lƣơng, đốt nhà. Vùng thứ hai thuộc lâm phận các tỉnh Trung Bộ, g m Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Ninh Thuận với đối tƣợng chủ yếu là ngƣời Man/Thƣợng, cƣớp đ n, bắt thổ lại mục, cƣớp/giết dân buôn ngƣời Kinh hoặc dân Kinh sống ở vùng ven lân cận.
Vùng thứ ba thuộc khu vực giáp biên giới Cao Miên, tại các tỉnh Hà Tiên, An Giang, của các thổ quan đánh phá, cƣớp đ n Kinh. Cƣớp bóc và bạo động của nông dân hầu nhƣ hông xuất hiện tại khu vực đ ng bằng phía Nam. Những cuộc bạo động trong vùng chủ yếu do thổ binh, thổ phỉ, giặc Hà Âm tại vùng giáp biên Việt-Miên gây nên, chống đối chính quyền trấn thuộc của Đại Nam. Biểu đ 5 thể hiện tình trạng vô danh và manh động trong các cuộc nổi dậy dƣới triều Minh Mạng.