CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản ❖ Văn hóa Lịch sử loài người đã và đang trải qua hơn 4000 năm, văn hoá được biết đến như một phần trong thể thiếu trong suốt quá trình lịch sử này. Nó vẫn trường tồn, vẫn được tiếp tục phát triển cho đến tận bây giờ. Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới.
Tuy nhiên, khi nhìn nhận về vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển thường có những cách tiếp cận khác nhau, điều đó một phần quan trọng phụ thuộc vào quan niệm về văn hóa. Hiện nay trên thế giới, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong đó có một số định nghĩa đáng chú ý như của nhà nhân loại học Edward Burnett Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy xuất bản năm 1871: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những năng lực, tập quán của tất cả mọi xã hội”. Đây là một định nghĩa với quy mô rộng, được coi như bách khoa toàn thư về tất cả khía cạnh của văn hóa.
Ngoài ra UNESCO (2002) cũng đã nêu định nghĩa về văn hóa là: “Văn hóa nên được đề cập như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Về cơ bản, văn hóa đề cập đến cách sống của một con người - ý tưởng, giá trị, phong tục và hành vi xã hội của họ. Văn hóa bao gồm những thứ như cách chúng ta cử hành đám cưới và tiến hành tang lễ, thức ăn chúng ta thích ăn, cách chúng ta ăn mặc và âm nhạc chúng ta thích.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và trong khi các thực hành và tín ngưỡng văn hóa thay đổi và phát triển, thì nhiều khía cạnh cơ bản vẫn được giữ nguyên. 10 Tuy các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, nhưng thông qua chúng có thể thấy tôn giáo được xem là một phần của văn hóa. Tôn giáo là dạng văn hóa và văn hóa là một tổng hợp trong đó tôn giáo phát sinh và tiếp biến. Do đó, tôn giáo hoạt động như một trong nhiều hình thức như: âm nhạc, kiến trúc, hội họa, thơ văn, nếp sống, giáo dục…và trải nghiệm công khai tâm linh hướng nội, cá nhân, chủ quan, siêu việt và phi hệ thống.
Nói cách khác, các giá trị văn hóa được coi là nền tảng của tôn giáo. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác. Do được chi phối bởi môi trường xung quanh, tính cách tộc người nên ở mỗi thời kỳ, mỗi khu vực hình thành, phát triển nên những nền văn hóa khác nhau, các tôn giáo khác nhau. ❖ Đặc trưng và chức năng của văn hóa Theo GS.Trần Ngọc Thêm (1999) đã đưa ra những đặc trưng, chức năng khác nhau của văn hóa trong đó có những đặc trưng và chức năng tiêu biểu như sau: • Trước hết văn hóa phải có tính hệ thống.
Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa. Với tính hệ thống, văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động của xã hội, giúp tổ chức xã hội tốt hơn, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. • Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị. Một hiện tượng, sự vật có thể tồn tại nhiều giá trị khác nhau nhiều hay ít tùy vào việc chúng ta xem xét ở những góc độ nào, dựa trên bình diện gì.
Chính vì vậy, một hiện tượng được đánh giá có thuộc phạm trù văn hóa hay không sẽ được xem xét các giá trị và phi giá trị trong mối tương quan của nó. Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội. • Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh.Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần.
Do mang tính chất nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau. • Ngoài ra, văn hóa còn có tính lịch sử. cho thấy văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ, có những giai đoạn phát triển khác nhau. Lịch sử của văn hóa tạo nên chiều sâu, 11 bề dày cũng như giúp văn hóa phải điều chỉnh, phân loại lại các giá trị một cách thường xuyên.
Truyền thống văn hóa sẽ là cốt lõi trong lịch sử phát triển hơn thế nữa truyền thông văn hóa tồn tại nhờ giáo dục nên chức năng giáo dục là một trong những chức năng quan trọng của văn hóa. Ngoài bốn chức năng cơ bản trên, còn có thể nói đến các chức năng khác của văn hóa như chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí,.song chúng đều chỉ là những chức năng bộ phận hoặc phái sinh từ bốn chức năng cơ bản đã nêu. Có thể thấy, văn hóa chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của con người nói riêng và nhân loại nói chung. Văn hóa tổ chức và điều chỉnh xã hội, giúp con người giao tiếp và thông tin, văn hóa giáo dục và đưa con người gia nhập vào cộng đồng xã hội.Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực phát triển của xã hội xuyên suốt thời gian và không gian.
Văn hóa là chất men gắn kết con người lại với nhau. ❖ Đa văn hóa Đa văn hóa là một thuật ngữ với một loạt các ý nghĩa trong bối cảnh xã hội học, triết học chính trị và sử dụng thông tục. Nó có thể mô tả một khu vực cộng đồng dân tộc hỗn hợp nơi có nhiều truyền thống văn hóa tồn tại hoặc một quốc gia duy nhất mà họ làm. Thuật ngữ “chủ nghĩa đa văn hóa” đôi khi được sử dụng để mô tả một điều kiện của xã hội; chính xác hơn, nó được dùng để mô tả một xã hội nơi nhiều nền văn hóa khác nhau cùng tồn tại.
Nhiều quốc gia trên thế giới đa dạng về văn hóa. Xã hội đa văn hóa được đặc trưng bởi những người thuộc các chủng tộc, dân tộc và quốc tịch, tôn giáo khác nhau sống cùng nhau trong cùng một cộng đồng. Trong các cộng đồng đa văn hóa, mọi người lưu giữ, lưu truyền, kỷ niệm và chia sẻ những cách sống, ngôn ngữ, nghệ thuật, truyền thống và hành vi văn hóa độc đáo của họ. Chủ nghĩa đa văn hóa ở Australia đã được gieo mầm từ lâu do Australia là một quốc gia đa dân tộc, đa chủng tộc, nên vấn đề đa văn hóa, đa ngôn ngữ, đa tôn giáo là không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, lúc đầu, khái niệm “chủ nghĩa đa văn hóa” còn hoàn toàn xa lạ. Vào năm 1981, Fraser – Thủ tướng Australia, công bố “chủ nghĩa đa văn hóa đề cập tới sự phân chia, tới sự ảnh hưởng lẫn nhau chứ không phải cô lập. Nó đề cập đến các dị 12 biệt về văn hóa và chủng tộc được đặt trong khuôn khổ của những giá trị xã hội cơ bản, những giá trị này làm cho cái dị biệt có thể tồn tại trên nền tảng chung mang tính bổ sung hơn ganh đua”. Từ đó, nhiều định nghĩa về chủ nghĩa đa văn hóa đã ra đời, trong đó định nghĩa tương đối phổ biến nhất là thuật ngữ “chủ nghĩa đa văn hóa” dùng để chỉ một xã hội lý tưởng nơi mà các cộng đồng cùng tồn tại một cách hòa hợp, được tự do bảo vệ tôn giáo, ngôn ngữ và phong tục tập quán riêng của mình và bình đẳng về các quyền lợi trong xã hội, quyền dân sự, quyền lực về chính trị.
(Trần Cao Bội Ngọc, 2006, tr12-13) Việc Australia hướng tới một xã hội đa văn hóa không chỉ góp phần tăng giá trị bản sắc dân tộc mà còn tạo nên sự đa dạng về tôn giáo ở đất nước này, khi mọi người dân được tự do thực hành và bảo vệ tôn giáo riêng của mình. Bằng cách nhận biết và tìm hiểu về các nhóm khác nhau này, các cộng đồng xây dựng lòng tin, sự tôn trọng và hiểu biết trên tất cả các nền văn hóa. Các cộng đồng và tổ chức ở tất cả các môi trường đều được hưởng lợi từ các nền tảng, kỹ năng, kinh nghiệm và cách suy nghĩ mới khác nhau đi kèm với sự đa dạng văn hóa. Đối với những quốc gia đa văn hóa trong đó có Australia, chủ nghĩa đa văn hóa chính là chìa khóa quan trọng để đạt được mức độ đa dạng văn hóa cao.
Sự đa dạng xảy ra khi những người thuộc các chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo khác nhau kết hợp với nhau. Một xã hội thực sự đa dạng là một xã hội thừa nhận và coi trọng những khác biệt văn hóa trong con người của nó. Một số lý thuyết về giao lưu, tiếp biến, đồng hóa văn hóa Trong tiến trình lịch sử và văn hóa của nhân loại, giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa và đồng hóa văn hóa là những quy luật phổ biến, duy trì sự tồn tại và phát triển cho các cộng đồng, dân tộc. Sự phát triển của các quốc gia, dân tộc dù ở bình diện nào cũng đều gắn liền với sự kế thừa, giao lưu, tiếp xúc, tiếp biến và đồng hóa văn hóa.
❖ Giao lưu văn hóa Giao lưu văn hóa là quá trình tiếp xúc, trao đổi, lựa chọn, tiếp nhận và chuyển hóa các giá trị văn hóa khác nhau giữa các nền văn hóa của các cộng đồng, dân tộc khác nhau. (Nguyễn Thị Hương, 2015) 13 Qua các nghiên cứu về tiến trình phát triển của nhân loại, có thể thấy, giao lưu văn hóa đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển loài người, từ thời xã hội nguyên thủy xa xưa đến tận ngày nay.