Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ẤN ĐỊNH TRƯỚC DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG 1.1 Khái niệm về hợp đồng, vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 1.1 Khái niệm về hợp đồng Hợp đồng là một chứng thư pháp lý nhằm phân định rõ quyền và nghĩa vụ cũng như mục đích khi các bên tham gia giao dịch với nhau. Chính vì vậy, các vấn đề liên quan đến hợp đồng thường rất quan trọng và được hầu hết hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới điều chỉnh. Sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật cũng dẫn đến có sự quy định hoặc diễn giải khác nhau về khái niệm của hợp đồng mặc dù về bản chất giữa chúng là khá tương đồng với nhau. Với các nước theo truyền thống Common law, khái niệm về hợp đồng đề cao sự tự do, tự nguyện thỏa thuận ý chí giữa các bên.
Anh là quốc gia điển hình của hệ thống Common law và là quốc gia sử dụng án lệ thường xuyên, xem án lệ là nguồn của pháp luật hay nói cách khác, án lệ ở Anh được xem là luật do thẩm phán làm ra (judge-made law), bên cạnh luật do nghị viện ban hành (legislation hay statutory law)2. Do đó, pháp luật hợp đồng của Anh không có khái niệm cụ thể về hợp đồng mà chủ yếu được giải thích thông qua các án lệ, đây cũng là đặc điểm chung của pháp luật các quốc theo theo trường phái Common law. Ở Anh, khái niệm về hợp đồng được hiểu là một hoặc nhiều thỏa thuận, cam kết (promise) làm phát sinh các nghĩa vụ được thực thi hoặc được pháp luật thừa nhận trường hợp bên đã cam kết mà vi phạm thì chịu chế tài theo cam kết, thỏa thuận đó3. Ở Hoa Kỳ, khái niệm về hợp đồng ngoài việc được ghi nhận trong án lệ như ở Anh thì khái niệm về hợp đồng còn được điều chỉnh bởi ARC và UCC.
Theo đó hợp đồng được hiểu “đó là một hoặc tập hợp một số lời hứa, nếu vi phạm thì pháp luật buộc phải bồi thường 2 Nguyễn Đức Lam (2012), Án lệ ở Anh quốc: lịch sử, khái niệm nguyên tắc và cơ chế thực hiện, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tham khảo tại http://www.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207746, ngày đăng: 01/02/2012, ngày truy cập: 22/2/2021 3 Xem Allen & Overy, Basic Principles of English Contract Law, https://www.org/wp- content/uploads/2016/10/A4ID-english-contract-law-at-a-glance.pdf, ngày truy cập: 3/3/2021. 9 hoặc buộc thực hiện lời hứa như là một nghĩa vụ”4. Hay với UCC thì tiếp cận chế định này bằng hai thuật ngữ là “hợp đồng” và “thỏa thuận” và có sự phân biệt giữa hợp đồng và thỏa thuận (“Contract”, as distinguished from “Agreement”), trong đó hợp đồng được hiểu “là toàn bộ nghĩa vụ pháp lý được hình thành từ kết quả của sự thỏa thuận của các bên…”5. Còn thỏa thuận được hiểu đó là “sự mặc cả giữa các bên trên thực tế được thể hiện trong lời nói giữa các bên hoặc các hình thức khác bao gồm quá trình thực hiện giao dịch hoặc các hành vi thương mại…”6.
Pháp luật về hợp đồng trong hệ thống Civil law cũng đề cao nguyên tắc tự do ý chí thỏa thuận của các bên7, nhưng trong giới hạn pháp luật quy định, nghĩa là không vi phạm điều cấm hoặc trái các chuẩn mực đạo đức xã hội. Với nguyên tắc đó, BLDS Pháp tiếp cận khái niệm về hợp đồng bằng định nghĩa rằng8 “Hợp đồng là sự thoả thuận về ý chí giữa hai hoặc nhiều người nhằm tạo ra, sửa đổi, chuyển giao hoặc chấm dứt nghĩa vụ”, hay “hợp đồng mua bán là thỏa thuận giữa các bên theo đó một bên có nghĩa vụ giao vật và bên kia có nghĩa vụ trả tiền cho vật ấy”9. Với BLDS Đức năm 1900 (sửa đổi 2002), khái niệm về hợp đồng không được định nghĩa một cách cụ thể, trực tiếp mà chỉ được quy định một cách gián tiếp thông qua chế định về nghĩa vụ, theo đó nghĩa vụ được hiểu là “trên cơ sở nghĩa vụ, người có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi nhất định. Thực hiện hành vi có thể bao gồm cả việc không thực hiện hành vi”10.
Nhìn chung, chế định về hợp đồng theo quan niệm của các nước Civil law cũng là những thỏa thuận hoặc các lời hứa về việc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định nào đó tương tự như cách tiếp cận của các nước theo truyền thống Common law, tuy nhiên, đặc trưng khác biệt quan trọng của các nước 4 Xem Điều 1 ARC, https://www.org/450300/_/american-restatement-2nd-of-the-law-of-contracts/ 5 Xem Điều 1-201-12 UCC, https://www.edu/ucc/2 6 Xem Điều 1-201-3 UCC, https://www.edu/ucc/2 7 Điều 1601-1 Ordinance No. 2016-131 of February 10, 2016 for the reform of French contract law, http://www.fr/art_pix/THE-LAW-OF-CONTRACT-2-5-16. 8 Xem Điều 1101 Ordinance No. 2016-131 of February 10, 2016 for the reform of French contract law 9 Điều 1582 BLDS Pháp, https://www.pt/wp-content/uploads/2014/12/Codigo-Civil-Frances- French-Civil-Code-english-version.pdf 10 Vũ Thị Lan Anh, Hợp đồng thương mại và pháp luật hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới, Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội số 11/2008.
10 theo hệ thống Common law đó là hợp đồng có thể được hình thành và có hiệu lực ngay cả khi xuất phát từ lời hứa của một bên. Trong khi đó, ở Việt Nam và một số quốc gia theo truyền thống Civil law thì hợp đồng bắt buộc phải có sự thoả thuận của hai bên hay nhiều bên, đôi khi lời hứa xuất phát từ một bên chỉ là hành vi pháp lý đơn phương hay chỉ chỉ là một giao dịch thể hiện ý chí của một bên, không thỏa mãn các yếu tố để cấu thành một hợp đồng11. Tại Việt Nam, thuật ngữ dùng để chỉ hợp đồng được hình thành và thay đổi liên tục qua từng thời kỳ như ở Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 sử dụng thuật ngữ là “Khế ước”. Đến BLDS năm 1995 khái niệm về hợp đồng có sự thay đổi theo hướng tiếp cận gần hơn với các quy định pháp luật trên thế giới, theo đó Điều 394 BLDS năm 1995 quy định rằng “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” và khái niệm này cũng được kế thừa nguyên vẹn trong BLDS năm 200512.
Đến lần sửa đổi năm 2015, khái niệm về hợp đồng đã loại bỏ thuật ngữ “dân sự” phía sau thuật ngữ hợp đồng. Theo đó thì khái niệm về hợp đồng trong BLDS năm 2015 được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Tóm lại, hợp đồng là kết quả của sự thoả thuận tự nguyện và rằng các bên khi chấp thuận đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm với các quyết định của mình. Với cách tiếp cận như trên, tác giả thấy rằng, pháp luật của Việt Nam đã tiếp cận gần hơn với thông lệ quốc tế về hợp đồng từ các hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó nhấn mạnh sự tự do thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong quan hệ hợp đồng.2 Khái niệm về vi phạm hợp đồng Vi phạm hợp đồng là chế định pháp lý khá phổ biến và có mặt ở hầu hết trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới và được dùng với nhiều thuật 11 Phạm Quang Huy (2016), Consideration theo pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ, Tạp chí luật học số 11/2016 trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
12 Xem Điều 388 BLDS năm 2005. 11 ngữ khác nhau như “vi phạm nghĩa vụ”, “vi phạm hợp đồng” hay “không thực hiện hợp đồng”. Mặc dù có nhiều thuật ngữ, song chúng có chung bản chất đó là hệ quả của việc không tuân thủ đúng các cam kết đã thỏa thuận, tuy nhiên mỗi quốc gia lại có các cách tiếp cận khác nhau về kỹ thuật lập pháp trong hệ thống pháp luật của mình đối với chế định này. Cách tiếp cận thứ nhất đó là các quốc gia họ chỉ sử dụng duy nhất một thuật ngữ để mô tả, quy định hoặc định nghĩa cho các hành vi vi phạm hợp đồng, đơn cử như UCC chỉ sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” để chỉ một cách thống nhất cho các hành vi vi phạm hợp đồng của người mua13 bao gồm các hành vi như: người mua từ chối mua hoặc từ chối việc nhận hàng hóa một cách không có cơ sở, hoặc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, hay không thanh toán hoặc từ chối thanh toán khi khoản thanh toán đến hạn.
Hay UCC cũng đưa ra khái niệm tương tự đối với các hành vi phạm hợp đồng của người bán14. Trong khi đó, SGA năm 1979 cũng không đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng, song có định nghĩa “vi phạm là bất kỳ một hành vi hoặc bất kỳ hành vi không hợp pháp nào đó”15. Với khái niệm này, pháp luật hợp đồng của Anh phân chia vi phạm ra thành hai loại16 “vi phạm điều khoản thứ yếu” và “vi phạm điều khoản cơ bản”, theo đó thì vi phạm điều khoản cơ bản được hiểu là việc vi phạm điều khoản đó sẽ dẫn tới quyền từ bỏ hợp đồng, còn vi phạm điều khoản thứ yếu là những vi phạm liên quan đến những thỏa thuận về hàng hóa thuộc hợp đồng bán hàng nhưng chúng chỉ có ý nghĩa thứ yếu, điều khoản phụ, vì thế khi vi phạm điều khoản này chỉ dẫn đến quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại chứ không dẫn đến quyền từ chối nhận hàng và coi hợp đồng là không có hiệu lực17. Cách tiếp cận thứ hai là một số quốc gia họ không đưa ra khái niệm cụ thể về vi phạm hợp đồng như cách tiếp cận của Anh và Hoa Kỳ mà họ quy định rõ từng 13 Điều 2-703 UCC, https://www.
14 Điều 711 UCC, https://www. 15 Khoản 2 Điều 60 SGA, https://www.no/lm/england. 16 Khoản 2 Điều 11 SGA, https://www.no/lm/england. 17 Điều 61 SGA, https://www.no/lm/england.
12 hành vi vi phạm trong từng điều luật riêng biệt. Đơn cử như BLDS của Đức18 không đưa ra một khái niệm cụ thể về vi phạm hợp đồng, tuy nhiên trong khoa học pháp lý của Đức thừa nhận và diễn giải vi phạm hợp đồng bằng hành vi phổ biến là (i) chậm thực hiện ; (ii) không thể thực hiện ; và (iii) không thể thực hiện được nghĩa vụ19. Với các văn bản pháp luật quốc tế về hợp đồng như CISG 1980, UPICC hay PECL tiếp cận các hành vi không tuân thủ đúng các cam kết đã thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng bằng các thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” hay “không thực hiện hợp đồng”. Theo đó, CISG 1980 tiếp cận bằng các thuật ngữ như “không thực hiện nghĩa vụ20, “không phù hợp, không đầy đủ”21 hay “vi phạm cơ bản”22.