Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BOI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HOI DAT VÀ PHÁP LUẬT VE BOI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HOI DAT 1. Tổng quan về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm “thu hôi dat”, “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” a, Khái niệm “thu hồi đất” Theo Từ điển tiếng Việt thì thu hồi được hiểu như sau: “Thu hồi là thu về, lấy lại cdi trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mat vào tay kẻ khác”.' Theo Từ điền giải thích Luật học thu hồi đất được hiểu là: “Thu hồi dat là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyên thu hồi quyên sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lan chiếm. Trường hop can thiết, Nhà nước thu hôi đất dang sử dụng của người sử dung đất dé sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”.ˆ Theo quy định của Luật đất đai 1987 và Luật đất đai năm 1993 đã đề cập vấn đề thu hồi đất, nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất.
Khái niệm thu hồi đất lần đầu tiên được Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Khoản 5 Điều 4: “Thu hôi dat là việc Nhà nước ra quyết định hành chính dé thu lại quyên sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uy ban nhân dân xã, phường, thị tran quan lý theo quy định của luật này”. Tuy nhiên khái niệm này chưa thể hiện được sự bao quát được nguồn gốc của tất cả các loại đất của những người đang sử dụng đất, cũng như chưa tính hết được các nguyên nhân, ly do của việc thu hồi đất. Để phù hợp hon, tại khoản 11 Điều 3 Luật Dat dai năm 2013 quy định :”Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyên sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất dai’’. * Trung tâm Từ điển học (2011), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Hà Nội, trang 759 ? Trường Dai học Luật Hà Nội (1999), Từ điện giải thích thuật ngữ Luật pháp quôc tê , NXB Công an nhân dân, trang 132 Với khái niệm này cho thấy, bằng quyền lực của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu, Nhà nước có quyền thu lại quyền sử dụng đất của tất cả các chủ thể sử dụng đất mà trước đó Nhà nước đã trao quyền sử dụng đất cho họ như: giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác, hay được Nhà nước công nhận quyền sử dung đất.
Bên cạnh đó, dé đảm bao tính pháp chế, sự nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật đất đai, Nhà nước có quyền chấm dứt quyền sử dụng đất đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Thu hồi đất là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thâm quyền nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của Nhà nước và xã hội hoặc xử lý các vi phạm về pháp luật đất đai của người sử dụng đất thông qua quyết định hành chính nhằm chấm dứt mối quan hệ đất đai giữa Nhà nước và chủ thể bị thu hồi. b, Khái niệm “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” Thuật ngữ “bồi thường” trong pháp luật đất đai ở Việt Nam đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về đất đai, ké từ trước khi có Luật Đất đai 1987. Luật đất đai 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 186/ HDBT ngày 31/5/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất rừng khi chuyên sang sử dụng vào mục đích khác; và Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Luật Dat dai năm 1998 và theo các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành thì thuật ngữ “bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù thiệt hại”.
Mặc dù pháp luật không đưa ra giải thích chính thức song có thé hiểu “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất là việc trả lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra, tương xứng với giá trị hoặc công lao mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng. Khi Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật Dat dai 2001 được Quốc hội ban hành thì thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai 2003 và các văn bản quy định , hướng dẫn thi hành. Khoản 6, Điều 4 Luật Dat đai 2003 quy định “Boi thường khi Nhà nước thu hôi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyên sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hôi dat’. Kê thừa và hoàn thiện khái niệm này, Khoản 12 Điều 3 Luật Dat dai 2013 giải thích “Boi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyên sử dụng đất đối với diện tích đất thu hôi cho người sử dụng dat’.
Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài sản trên đất, việc bồi thường được thực hiện theo những quy định của pháp luật về đất đai. Phân biệt bôi thường trong đất đai và bồi thường trong dân sự Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có những đặc trưng sau: Thứ nhất, đôi tượng được bồi thường là chủ thé sử dụng đất như hộ gia đình, cá nhân, tô chức trong nước, tô chức nước ngoài, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư tại nước ngoai đầu tư tại Việt Nam,người nước ngoài định cư tại Việt Nam. Thứ hai, về phạm vi bồi thường đó là khi Nhà nước thu hồi đất vào mục dich quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Theo đó, trong từng trường hợp Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách hỗ trợ và thực hiện tái định cư cho người bị thu hồi dat.
Thứ ba, về giá đất bồi thường, Nhà nước chủ động trong việc xác định giá đất bồi thường dựa trên các căn cứ khoa học và tôn trọng giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường của thửa đất. Thứ tw, các phương án tiễn hành bôi thường đó là sự kết hợp giữa phương pháp hành chính và phương pháp thỏa thuận. Ngoài ra, có thé sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như: tuyên truyền, thuyết phục. Thứ năm, về tính chất của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Tính phức tạp, đất đai đóng vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển lâu dài của đất nước.
Với truyền thong canh tác nông nghiệp lâu đời, đất đai là điều kiện không thể thiếu và không thể tách rời trong sự phát triển kinh tế và xã hội đặc biệt là đất nông nghiệp. Dat là nguồn sống, là nơi sống, là điều kiện cho sự tồn tại cuộc sông của nông dân. Đôi với đât ở, nhât là khu vực đô thị, đât được xem là 10 quyền tài sản có giá tri lớn, đặc biệt là đối với các chủ thể sản xuất, kinh doanh dịch vụ. Vì vậy, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc mang tính chất phức tạp, nhạy cảm và khó khăn.
Tính đa dạng bởi đất đai vốn đa dạng về điều kiện tự nhiên, về giá tri kinh tẾ, trình độ dân trí khác nhau của các chủ sở hữu, các vùng miền và mục đích sử dụng đất khác nhau. Nên khi Nhà nước thu hồi đất việc xác định bồi thường cũng rất khác nhau. Từ những đặc trưng trên có thé thấy giữa bồi thường trong đất đai và bôi thường trong dân sự có những điểm khác nhau cơ bản sau: Về chủ thé bồi thường: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là trách nhiệm của Nhà nước. Ở đây Nhà nước vừa là một tô chức chính trị, quyền lực vừa là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với đất đai.
Trong khi đó, chủ thể của bồi thường thiệt hại trong dân sự có phạm vi rộng hon, bao gồm bat cứ tô chức, cá nhân nào có hành vi gây thiệt hại cho người khác. Vẻ chủ thé được bồi thường: Chủ thé của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất.Người sử dụng đất hợp pháp là người được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ khác gan liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 mà có đất đang sử dụng bị Nhà nước thu hồi. Trong khi đó, chủ thé được bồi thường trong dân sự là bất cứ tổ chức, cá nhân nào có thiệt hại do hành vi vi phạm của chủ thê bồi thường gây ra. Vẻ nguyên tac bôi thường: Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai 2013 thì được bồi thường.
Việc bồi thường được thực hiện băng VIỆC giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bang tiền theo giá đất cụ lãi thé của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Ngược lại, nguyên tắc bồi thường áp dụng trong dân sự là nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận giữa người có trách nhiệm bồi thường và người được bồi thường. Chỉ khi nào các bên không tự thỏa thuận được với nhau thì mới yêu cầu cơ quan Nhà nước có thắm quyền can thiệp giải quyết. Về tinh chất bôi thường: Bồi thường thiệt hại trong dân sự chỉ mang tinh chat dân sự giữa cá nhân hoặc tô chức với nhau.
Trong khi đó, bồi thường khi Nhà nước thu hồi dat lại hàm chứa cả tính chất hành chính và tinh chat dân sự. Tính chất hành chính của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thể hiện trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích an ninh quốc phòng.