Chương 1 TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ 1. Tư duy phản biện 1. Một số vấn đề chung về tư duy * Khái niệm tư duy Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [22, tr. Theo Từ điển Giáo dục học: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, cho phép phản ánh được bản chất và các mối quan hệ của sự vật khách quan mà con người không nhận biết được bằng tri giác và cảm giác trực tiếp hoặc bằng biểu tượng” [14].
Trong Từ điển triết học (M. Rodental chủ biên) có viết: “Tư duy - sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật thực tại” [23, tr. Như vậy, tư duy là hình thức cao của sự phản ánh tích cực, chủ động, sáng tạo của con người.
Có thể nói, tư duy là “tài nguyên” riêng có, là năng lực đặc trưng cơ bản nhất của con người (Edward De Bono). Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể khái quát: Tư duy là một quá trình nhận thức đặc biệt chỉ có ở con người, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan bằng khái niệm, phán đoán, suy luận. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy bao hàm những quá trình phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề,. Ở giai đoạn nhận thức bằng tư duy, sự vật được phản ánh một cách gián tiếp và khái quát trong các khái niệm, phán đoán và suy luận.
Khái niệm, phán đoán, suy luận là những hình thức cơ bản của tư duy, nhờ đó tư duy có thể đi sâu phân tích và khám phá bản chất của thế giới khách quan. Kết quả của tư duy bao giờ cũng là những tri thức về sự vật, hiện tượng nào đó hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Tư duy là sản phẩm không chỉ của hoạt động xã hội mà còn là của quá trình tâm lý, nhờ đó con người tiếp thu được những tri thức khái quát và tiếp tục nhận thức, sáng tạo tri thức mới. Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất khi phân loại tư duy.
Tuy nhiên, người ta có thể chia thành: Tư duy lôgíc và tư duy phi lôgíc; Tư duy biện chứng và tư duy siêu hình; Tư duy lệ thuộc và tư duy độc lập; TDST và tư duy không sáng tạo; TDPB;. * Đặc điểm của tư duy Thứ nhất, tính khái quát cao. Tư duy phản ánh khái quát các thuộc tính của sự vật, hiện tượng để tìm các thuộc tính chung, bản chất của sự vật, hiện tượng. Khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những liên hệ, quan hệ chung nhất định.
Nói cách khác, khái quát hoá là quá trình tìm ra mối liên hệ biện chứng giữa các sự vật, hiện tượng. Nhờ khả năng khái quát hoá mà tư duy con người phản ánh được mối liên hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Do đó, quá trình tư duy là quá trình nhận thức và phản ánh cái chung của các sự vật, hiện tượng. Cái chung này được phản ánh bằng tư duy, chứ không thể bằng nhận thức cảm tính.
Muốn vạch ra được dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng phải thông qua các thao tác tư duy và do quá trình khái quát hoá của tư duy đem lại. Cho nên không có khái quát thì không có quá trình hình thành khái niệm, không 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể xây dựng được các lý thuyết khoa học nói chung, không có hoạt động nhận thức sáng tạo. Hoạt động khái quát hoá của tư duy chỉ có thể xảy ra và được thực hiện trên cơ sở một số thuộc tính quan trọng đã được tư duy trừu tượng tách ra khỏi những thuộc tính khác. Từ những thuộc tính đã được trừu tượng hoá này, tư duy đi tới bao quát cái chung, cái bản chất, cái có tính quy luật.
Về điểm này, V.Lênin đã nhận xét: “Sự khái quát đơn giản nhất, sự hình thành đầu tiên và đơn giản nhất của những khái niệm (những phán đoán, suy lý…) có nghĩa là con người nhận thức ngày càng sâu sắc về các mối liên hệ khách quan, về các tính quy luật của thế giới” [18, tr. Thứ hai, tính trừu tượng hoá cao. Trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để nhận thức, phản ánh. Cho nên, để cái chung có thể tồn tại trong tư duy như một khái niệm tách rời cái riêng thì dứt khoát phải có hoạt động trừu tượng hoá tách cái chung ra khỏi cái riêng.
Đồng thời, sự trừu tượng hóa của tư duy có khả năng khu biệt hoá bất kỳ thuộc tính nào của sự vật ra khỏi những thuộc tính khác hoặc tách sự vật đó ra khỏi mối liên hệ của nó với những sự vật khác. Nhờ có trừu tượng hoá mà con người có khả năng nhận thức sự vật ở dạng thuần nhất, độc lập tương đối với tất cả những yếu tố có liên quan đến nó. Với quá trình trừu tượng hoá, chủ thể nghiên cứu nắm bắt tốt hơn các thuộc tính hoặc sự vật được tách ra, tập trung chú ý vào chúng, biến chúng thành khách thể của sự phân tích chuyên ngành; thông qua đó sẽ làm tăng thêm hiệu quả của quá trình nhận thức. Thứ ba, tư duy phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp và gắn liền với ngôn ngữ.
Tư duy không nhận thức một cách trực tiếp các thuộc tính của sự vật như nhận thức cảm tính, mà nó phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp. Thông qua các tri thức cảm tính thu được một cách trực tiếp, qua các thao tác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tư duy để xây dựng nên các khái niệm về sự vật. Khái niệm về sự vật được diễn đạt qua một từ hay một cụm từ. Do đó, tư duy và ngôn ngữ không tách rời nhau mà có mối liên hệ thống nhất với nhau (nhưng không đồng nhất).
Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ, nó phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện cho mình. Nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không thể diễn ra được, đồng thời, các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận. Vì vậy, ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy và nó là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, diễn đạt các khái niệm, phán đoán, suy luận, lý thuyết đã có tính chất khái quát gián tiếp, bao hàm cái chung. Nói cách khác, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy.
Nhờ có ngôn ngữ, con người không chỉ giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm với nhau, mà còn nhận thức được tình huống có vấn đề, phản ánh đúng đắn cái bản chất và các mối quan hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng, tổng kết các hoạt động của con người cũng như của các thế hệ người trong lịch sử. Thứ tư, tính sáng tạo. Xét về bản chất quá trình tư duy là một quá trình sáng tạo. Điều này biểu hiện ở chỗ, tư duy đem lại cho con người những tri thức mới về các mối liên hệ và tính quy luật khách quan chi phối sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng và quá trình.
Tính sáng tạo đó sẽ càng gần với thực tiễn, có ý nghĩa chỉ đạo trực tiếp thực tiễn khi tư duy được đặt trên một nền tri thức phong phú, đa dạng cộng với phương pháp tư duy khoa học. Bản chất của tư duy là một quá trình luôn vươn tới cái mới ngày càng sát thực, càng gần tới chân lý khách quan. Quá trình nhận thức chân lý, chủ thể tư duy bên cạnh việc đặt ra các vấn đề mới, còn phải biết cách giải quyết chúng bằng những phương pháp phù hợp. Từ đó, chủ thể tư duy sử dụng một cách sáng tạo vốn tri thức phong phú đã có, bao gồm cả kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp; huy động tri thức lý luận, sự am hiểu cần thiết, cụ thể về những lĩnh vực “có vấn đề”.
Ngoài ra, trong sự sáng tạo của tư duy ở trình độ lý luận khoa học cao còn có sự tham gia 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tích cực của tưởng tượng và trực giác. Các tư tưởng, quan niệm, lý thuyết khoa học. do tư duy sáng tạo ra cũng như bản thân tư duy có sự biến đổi, phát triển nhưng xét đến cùng là do thực tiễn lịch sử - xã hội quyết định. Trên cơ sở phân tích những đặc điểm cơ bản của tư duy, chúng ta có thể thấy: tư duy là giai đoạn cao của quá trình con người nhận thức thế giới khách quan; là sự phản ánh khái quát, trừu tượng và gián tiếp về sự vật, hiện tượng bằng các khái niệm, phán đoán, suy luận; cho phép con người thu nhận những tri thức mới về các sự vật, hiện tượng, các mối liên hệ bản chất, các thuộc tính và quy luật của khách thể nhận thức.
Khái niệm tư duy phản biện * Một số quan niệm về tư duy phản biện Sự hình thành TDPB từ những tư tưởng sơ khai đến khi định hình với tư cách là một phương pháp tư duy, đã có chiều dài hàng nghìn năm trong lịch sử tư tưởng nhân loại với hàng trăm nhà tư tưởng đã đóng góp cho sự phát triển của nó. Khởi đầu tư tưởng về TDPB là sự tiếp cận của triết gia cổ đại Socrates (469 - 399 B. Khoảng 2500 năm trước, Socrates đã chỉ ra tầm quan trọng của việc đặt những câu hỏi để điều tra một cách sâu sắc những suy nghĩ trước khi chúng ta chấp nhận ý kiến.