Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG PTDTBT THCS 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong những năm gần đây, tổ chức hoạt động trải nghiệm trong giáo dục trở thành hướng nghiên cứu thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà sư phạm trong nước. Các nghiên cứu đã tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Cuốn sách “Tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường trung học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.” (Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Ngọc Diệp, 2014) đã trình bày khái niệm, bản chất , đặc điểm của hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Các tác giả khẳng định: hoạt động trải nghiệm trong nhà trường là cơ sở quan trọng để thực hiện giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Từ đó, các tác giả đưa ra các hướng dẫn dưới hình thức yêu cầu và lưu ý đối với GV để tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm thành công. [24] Trong công trình“Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông” (Nguyễn Thị Liên (ch.), 2016), các tác giả đã trình bày cơ sở xác định và đưa ra quan điểm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo tiếp cận hoạt động. Khẳng định hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, từ đó đưa ra những yêu cầu chung và giới thiệu về cách phân loại và kỹ thuật tổ chức một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường phổ thông.
[11] Trong “Kỷ yếu hội thảo hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông và mô hình trường Phổ thông gắn với sản xuất, kinh doanh tại địa phương”(2014 ) của Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Tuyên Quang vào tháng 8/2014, các nhà khoa học đã đưa ra quan điểm nhiều chiều về khái niệm, tính chất, nội dung, hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn thực 6 hiện và đánh giá về hoạt động trải nghiệm. Các bài báo trong kỷ yếu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về khái niệm hoạt động trải nghiệm, nhưng thống nhất đó không phải là hoạt động xa lạ trong giáo dục học sinh ở nhà trường mà đó là sự tích hợp lại các nội dung của nhiều chương trình giáo dục trước đây được thực hiện trong nhà trường. Nội dung kỷ yếu cũng đề cập đến kinh nghiệm tổ chức đối với hoạt động trải nghiệm từng cấp học ở nước ngoài, nêu ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả Đinh Thị Kim Thoa với bài “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm” vận dụng lí thuyết học từ trải nghiệm của Kolb (1984) để tìm hiểu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Theo tác giả, để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học; nhưng để phát triển và hình thành năng lực (phẩm chất) thì người học phải trải nghiệm. Trong bài “Mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo” tác giả Đinh Thị Kim Thoa lại đề câp đến mục tiêu năng lực với đề xuất của nhóm nghiên cứu về các năng lực chuyên biệt hình thành thông qua hoạt động trải nghiệm là: Năng lực tổ chức hoạt động; Năng lực vận dụng kiến thức tổng hợp vào thực tiễn; Năng lực tích cực hóa bản thân; Năng lực khám phá và sáng tạo; Năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp. Bài báo đưa ra những nguyên tắc lựa chọn nội dung là: Phù hợp ( nội dung lựa chọn cần phù hợp với độ tuổi học sinh, phù hợp với điều kiện địa phương, điều kiện nhà trường…); Khoa học - giáo dục (nội dung phải đảm bảo tính logic và khoa học, tính giáo dục, tính thẩm mỹ và tính đạo đức…); Thời sự (nội dung lựa chọn cần đáp ứng với những yêu cầu của xã hội ở thời điểm giáo dục); Gắn kết (gắn với đời sống thực tiễn của địa phương, đất nước và hòa nhập quốc tế); Mục tiêu: nội dung lựa chọn phải có ưu thế để đạt được mục tiêu năng lực đề ra. Tác giả cũng nhấn mạnh tiêu chí chỉ số và chất lượng của hoạt động trải nghiệm trong đánh giá các hoạt động trải nghiệm.
Bài “Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo - cơ sở để phát triển mô hình trường phổ thông gắn với sản xuất, kinh doanh tại địa phương” của tác giả 7 Nguyễn Tất Thắng phân tích mối liên hệ và vai trò của hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo trong trường đối với việc gắn giáo dục nhà trường với sản xuất và lao động ở địa phương. Bài “Thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với dạy học phát triển năng lực cho học sinh„ của tác giả Đặng Văn Nghĩaphân tích làm nổi bật yêu cầu trong dạy học giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận định hướng và phát triển năng lực học sinh;… Nhìn chung, các bài báo trong kỷ yếu hội thảo đã thể hiện đây là công trình có nhiều ý nghĩa trong xác định tầm quan trọng, ý nghĩa, nội dung tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường, là tài liệu tham khảo để luận văn kế thừa và vận dụng phù hợp theo tiếp cận của đề tài. Trong công trình “Kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học” (Nguyễn Mậu Đức, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Quang Linh, 2016), các tác giả đã xác định hoạt động trải nghiệm là một phương thức học tập thiết yếu của con người, từ đó tác giả đã hệ thống hóa các kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học như là việc triển khai một phương thức học tập hữu ích cho người học; phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động trải nghiệm đối với sự phát triển nhận thức, tình cảm của người học, mục đích giáo dục của trường trung học. [6] Tác giả Bùi Ngọc Diệp trong bài “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông“ đưa ra quan điểm hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường, khẳng định hoạt động trải nghiệm thực chất là hoạt động giáo dục nhưng có tính chất đặc biệt, người học là chủ thể lập kế hoạch, trải nghiệm các tình huống đa dạng, từ đó phát triển hiểu biết và kỹ năng tương ứng cho bản thân.
Từ đó, tác giả nêu ra hệ thống các hình thức và yêu cầu kỹ thuật để tổ chức thành công các loại hình hoạt động trải nghiệm là: Tổ chức diễn đàn, : Tổ chức trò chơi, Tổ chức diễn đàn, sân khấu tương tác, CLB, tham quan,dã ngoại, tổ chức hội thi, tổ chức dã ngoại, sân khấu tương tác, hoạt động chiến dịch, hoạt động nhân đạo. [4] 8 Trong công trình “Nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo” (Trần Anh Tuấn, 2017), tác giả tập trung làm sáng tỏ đặc điểm, bản chất và điều kiện của hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Khẳng định tổ chức hoạt động trải nghiệm là con đường, phương thức nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Phân tích vai trò của giáo viên , những yêu cầu đối với giáo viên trong tổ chức hoạt động trải nghiệm.
Qua đó xác định năng lực sư phạm của giáo viên được hình thành và phát triển qua việc tổ chức hoạt động cụ thể. [25] Nhìn chung, các nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm và năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên ở Việt Nam đã được quan tâm ở mức độ nhất định, nhất là những năm gần đây. Tuy nhiên, tổng quan các nghiên cứu ở VIệt Nam về tổ chức hoạt động trải nghiệm và bồi dưỡng giáo viên về hoạt động trải nghiệm cho thấy chưa có nhiều nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên về hoạt động trải nghiệm, còn thiếu vắng các nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên các cấp học, theo đặc trưng của từng địa phương, từng vùng miền. Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên các trường PTDT bán trú THCS huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Các khái niệm cơ bản 1. Hoạt động trải nghiệm Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất, là bất kỳ trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức, .) trong đời sống tâm lý của từng người. Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lý học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó, nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân. 515] 9 Theo tác giả Phạm Minh Hạc, trải nghiệm là thuật ngữ khi dịch từ từ (experience - tiếng anh) sang tiếng Việt có thể có một số thuật ngữ tương đương như: cảm nghiệm, thể nghiệm, kinh nghiệm va trải nghiệm, nhưng thực chất là 4 mức độ.
Tồn tại khách quan tác động vào giác quan con người tạo ra cản giác, tri giác, biểu tượng, con người cảm thấy các tác động đó - ta có cảm nghiệm; thể nghiệm là cảm nhận rõ nét, để lại ấn tượng sâu hơn; khi nào từ cảm nghiệm, thể nghiệm rút ra bài học, ta gọi là kinh nghiệm: đó là tri thức được vận dụng vào thực tiễn đời sống (lịch sử, xã hội,.); con người nhìn nhận các cảm nghiệm, thể nghiệm, kinh nghiệm hay nói theo hiện tượng luận: đưa các "nghiệm" vào trường hiện tượng của con người, tức là ăn nhập vào nội tâm của người đó, hay theo triết tự: trải qua và nghiệm thấy thực sự, tạo ra lăng kính tâm lý, nhìn ra chân-giả, thiện - ác, đẹp -xấu, đúng sai, cần - không cần, có ích - vô ích, ủng hộ - phản đối. Vốn trải nghiệm hình thành nên các thái độ giá trị: trải nghiệm là cơ chế hình thành thái độ giá trị.979, 980] Cuộc sống của con người là dòng các hoạt động, con người không ngừng trải nghiệm về cuộc sống, về cảm xúc, về mối quan hệ giữa người với người,… Con người từ khi sinh ra và lớn lên đã có những trải nghiệm của riêng mình, hình thành những kinh nghiệm cá nhân.