CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đã tác động sâu sắc đến toàn bộ các mặt kinh tế và đời sống xã hội của con người. Giáo dục là con đường chính thống, hiệu quả nhất đưa trí thức tới mỗi người.
Vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. “Chất lượng của một nền giáo dục không thể vượt ngoài chất lượng của đội ngũ giáo viên”, Singapore đã đưa ra mô hình phát triển giáo viên trong thế kỷ XXI với 5 mục tiêu cơ bản: Giáo viên phải là nhà giáo dục có đạo đức; nhà chuyên môn có năng lực; là người học có khả năng cộng tác; là nhà lãnh đạo có khả năng biến hóa và là thành viên tích cực xây dựng cộng đồng. Raja Roy Singh, một chuyên gia giáo dục của UNESCO khẳng định “không có một nền giáo dục nào có thể đứng cao hơn ông thầy của nó” (UNESCO, 2005). Tác giả cho rằng đội ngũ nhà giáo có vai trò then chốt, quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đáp ứng yêu cầu xã hội ngày nay hết sức cần thiết và quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Một quốc gia phát triển tại Châu Á là Nhật bản, đào tạo sư phạm được đảm bảo ở trình độ đại học. Giáo viên dạy trung học, tiểu học, mẫu giáo được đào tạo trong các trường đại học quốc gia, theo các chương trình đào tạo sư phạm 4 năm. Ngoài ra, một bộ phận giáo viên được đào tạo theo chương trình từ 2 đến 4 năm tại một số trường tư thục.
Ở Nhật Bản cũng có nhiều cơ sở đào tạo trình độ sau đại học [ 13,268]. Mặt khác, ngoài việc đào tạo, chính phủ Nhật Bản cũng quan tâm đặc biệt đến bồi dưỡng giáo viên tập sự mới được tuyển dụng trong các trường quốc lập. Chương trình tập luyện trải dài trong một năm học, với tổng số thời gian ít nhất là 90 ngày, trong đó có 60 ngày là thời gian tập sự tại trường để giáo viên tư vấn, chỉ dẫn giảng dạy cho giáo viên tập sự, còn lại 30 ngày tham dự các buổi giảng bài, hội thảo, thực hành, bao gồm cả 5 ngày tập huấn ở các trung tâm giáo dục hoặc các cơ sở giáo dục khác ngoài nhà trường. 7 Tại Hàn Quốc, Chính phủ đã phát triển và phân phối tài liệu và phương tiện dạy học, xây dựng hệ thống đào tạo giáo viên cũng như hỗ trợ quản lý.
Vì vậy đã thiết lập nên các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở một số trường mầm non góp phần nâng chất lượng giáo dục mẫu giáo [13,305]. Nhiều nước trên thế giới như Anh, Hoa Kỳ, Thái Lan quan tâm đến lực lượng tham gia bồi dưỡng. GV có kinh nghiệm, có trình độ nghề nghiệp cao huướng dẫn tư vấn cho GV mới [15, 63-64]. Hiện nay, giáo dục thế giới đã xuất hiện xu hướng “cải cách dựa trên các chuẩn”.
Nhiều quốc gia đã tiến hành xây dựng các bộ chuẩn cho giáo dục của nước mình như: Chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn nhà trường, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, chuẩn giáo viên. Trong bộ chuẩn giáo viên bao gồm chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn chức danh, chuẩn nghề nghiệp. Trong chuẩn nghề nghiệp, một số quốc gia tiến hành xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên cho từng ngành học, cấp học, môn học. Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mỗi cấp học là văn bản quy định các yêu cầu cơ bản về phẩm chất, năng lực mà người giáo viên cấp học đó phải đạt được.
Đây là một định hướng để các nhà quản lý giáo dục quan tâm, hướng đến trong công tác bồi dưỡng đội ngũ GV đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp. Tóm lại, những công trình nghiên cứu ở nước ngoài khá phong phú, đa dạng, đề cập sâu sắc đến các nội dung, biện pháp phát triển đội ngũ GV. Các nghiên cứu trong nước Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “… nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Người đã chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạy học: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [19].
Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo, đưa ra nhiều giải pháp cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, trong đó có việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên như Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) đã đưa ra những định hướng về chiến lược phát triển GD - ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa “… Thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu”; và đưa ra các giải pháp “… Tǎng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo; Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, học; Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo và tǎng cường cơ sở vật chất các trường học” [10]; Tiếp sau đó là Chỉ thị số 40 8 của Ban bí thư; Nghị quyết số 40 của Quốc hội; Chỉ thị số 22/2003/CT-BGDĐT ngày 05 tháng 6 năm 2003 của Bộ GD&ĐT về việc bồi dưỡng nhà giáo và CBQL giáo dục hàng năm đưa ra mục tiêu bồi dưỡng: “Nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng; chủ trương, chính sách của Nhà nước và của ngành; nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng cập nhật, hiện đại hoá phù hợp với thực tiễn phát triển giáo dục Việt Nam để đáp ứng các yêu cầu đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục”. Và gần đây nhất là Nghị quyết 29 (Khóa XI) đã đề ra mục tiêu, giải pháp về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế [ 11]]. Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, nguồn ngân sách nước ta còn hạn hẹp nhưng Đảng và Nhà nước vẫn dành sự đầu tư cho sự phát triển của giáo dục. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước được chuẩn hóa.
Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên luôn được ngành giáo dục coi trọng và thực hiện linh hoạt, đa dạng như đào tạo lại, đào tạo mới, đào tạo trên chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, … Thời gian qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, lý luận dạy học cũng như các bài viết đăng trên các tạp chí, báo ngành, tuy nhiên, vấn đề lý luận về bồi dưỡng giáo viên chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu của các tác giả dưới góc độ quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô và vi mô như: Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà nội [ 16]; Trần Khánh Đức đã đề xuất một số biện pháp mới cho công tác đào tạo, bồi dưỡng GV đáp ứng nhu cầu của thời đại [14]. Nguyễn Thị Xuân Hương (2012), Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiểu học ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục năm 2012, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh [20]. Nguyễn Hữu Lê Huyên với công trình Thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục năm 2011 [21],… Phạm Quang Tùng “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định”[30].
9 Tóm lại, Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên như: nâng cao nhận thức về phát triển và đổi mới sự nghiệp giáo dục; xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên; chỉ đạo thực hiện đổi mới quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; đa dạng hóa các nội dung và cách thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; xây dựng và thực hiện các chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ, …. Nhìn chung, các giải pháp mới chỉ dừng lại ở nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng, vấn đề quản lý bồi dưỡng chưa được quan tâm nhiều, khai thác sâu để đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay mặt khác chưa đề cập nhiều đến quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên. Chính vì thế chúng tôi đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên ở các trường tiểu học huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý trong công tác bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học. Khái niệm chính của đề tài 1.
Khái niệm hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên 1. Bồi dưỡng Có một số khái niệm về bồi dưỡng: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [28]. Theo tài liệu của UNESCO, 2005 định nghĩa như sau: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp”.
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [9]. Như vậy bồi dưỡng là hoạt động nhằm bổ sung tri thức, nâng cao năng lực và phẩm chất chuyên môn để người lao động làm việc có hiệu quả hơn những công việc đang đảm trách chứ không vì mục đích để đổi nghề.