Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Nghiên cứu về tư vấn và kỹ năng tư vấn học đường có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm, những nghiên cứu này được thể hiện dưới nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu khác nhau. Tâm lý học đường là một nhánh của ngành Tâm lý học được ra đời đầu tiên tại Mỹ vào đầu thế kỷ XX.
Đầu thế kỷ 20, tác giả Carl Roger có tầm ảnh hưởng rất lớn, là nhà tâm lý học, tâm lý trị liệu hàng đầu, đưa ngành tư vấn tâm lý lên địa vị quan trọng với phương pháp tư vấn thân chủ trọng tâm và học trò là trung tâm trong tư vấn học đường. Theo tác giả, tư vấn học đường trong các nhà trường nhằm lắng nghe, động viên giúp đỡ giải quyết các khó khăn trong học tập và chia sẻ tâm tư tình cảm, giải toả stress, cải thiện môi trường giáo dục, con người nhân ái, nhân văn được tôn trọng. Tư vấn học đường bắt đầu được nâng lên từ mục tiêu tập trung phát triển nghề nghiệp sang tập trung vào các vấn đề cá nhân và xã hội của học sinh, sinh viên, song song với sự lớn mạnh của các trào lưu nâng cao pháp quyền xã hội và dân sự ở Mỹ (dẫn theo [14]). Năm 1981, vai trò của hoạt động TVHĐ đã được khẳng định ngay trên trang bìa số đầu tiên của Tạp chí, John H.
Borgard: Chúng ta cần một cái gì nhiều hơn để hoạt động. TVHĐ không chỉ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu, mà còn đạt được chức năng giáo dục thật sự hơn. “Một cái gì đó nhiều hơn chính là nền tảng lý thuyết tiếp cận cho hoạt động của TVHĐ”. Tác giả nhấn mạnh vai trò của hoạt động TVHĐ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường THPT (dẫn theo [34]).
Những lý thuyết mang tính liên ngành thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau: Khoa học phát triển, khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn,. đều có tác dụng hỗ trợ cho hoạt động của đội ngũ TVHĐ. Với sự tiếp cận mang tính đa chiều này, các TVHĐ sẽ biết được nhiều vấn đề của người học như: Đặc điểm tâm, sinh, lí của học sinh, sự tương tác xã hội của học sinh,. 6 Những lý thuyết đem lại hiệu quả cho công tác TVHĐ là lý thuyết tâm lí - xã hội của con người, thuyết phát triển văn hóa xã hội, thuyết phát triển nhu cầu,.
có thể khẳng định rằng, hoạt động TVHĐ khá phức tạp. Bởi vậy, sự vận dụng một cách linh hoạt các lí thuyết là một yêu cầu cơ bản. Các nhà nghiên cứu còn sử dụng các lý thuyết ứng dụng trong giáo dục quản lý, trong công tác tham vấn,. tất cả những điều đó sẽ giúp cho các TVHĐ có điều kiện tiếp cận với học sinh trên nhiều phương diện khác nhau.
Đồng thời, các TVHĐ cũng cần đặc biệt lưu tâm đến quá trình xã hội hóa cá nhân người học. Quá trình đó liên quan chặt chẽ đến các vấn đề như: Sắc tộc, tôn giáo, giới tính, người đồng tính,. Những vấn đề này đã trở thành các nhân tố góp phần đa dạng hóa các nhóm học sinh (dẫn theo [39]). Năm 1999, nhà nghiên cứu Hendy cho rằng những lý thuyết phát triển liên quan đến hoạt động của TVHĐ là quá nhiều.
Ông cũng khẳng định sự đa dạng về lượng ấy nhưng vẫn đưa đến một cách hiểu chung nhất về hoạt động TVHĐ trong nhà trường. GV cần có sự vận dụng một cách linh hoạt các lý thuyết đó sao cho phù hợp với các môi trường hoạt động khác nhau (dẫn theo [31]). TVHĐ có vai trò quan trọng đối với sự thành công trong quá trình học tập của học sinh. Các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn quan tâm đến việc xây dựng một nền tảng vững chắc để hoạt động TVHĐ có cơ sở hoạt động và hoạt động một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, Hiệp hội TVHĐ Quốc gia Hoa Kỳ, Creamer (2000) đã khẳng định “Hiện tại vẫn chưa có một lý thuyết chính thống riêng nào cho hoạt động TVHĐ” trong cuốn “Sổ tay cho TVHĐ”. Những cách thức mà một TVHĐ cần phải làm để có thể tương tác hiệu quả với người học, để tạo cho họ một niềm tin, tâm lí mang tính tích cực trong học tập, phát triển bản thân và xã hội đã được Hiệp hội TVHĐ Quốc gia Hoa Kỳ tập trung, làm rõ (dẫn theo [39]). Năm 1953, Hiệp hội các nhà tư vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) tham gia vào APGA- tiền thân của hiệp hội tư vấn tâm lý Hoa Kỳ hiện nay. Năm 1962 cuốn sách “The Counselor in a Changing World” của tác giả Wrenn đã định chế hóa các mục tiêu của tư vấn học đường.
Năm 1964 ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tư vấn học đường (dẫn theo [31]). Cuối những năm 1990, Pat Martin một GV toán học kiêm cố vấn học đường tại Mỹ cùng với tổ chức giáo dục The Trust thiết lập một dự án về tư vấn học đường 7 chủ yếu nhằm vào việc rút ngắn những khoảng cách, những cản trở đi đến thành công của trẻ em và thanh thiếu niên kể cả những trẻ em da màu, trẻ em song ngữ, trẻ em bị khuyết tật. Dự án của Martin tập trung vào tư vấn học sinh, cha mẹ, người giám hộ [dẫn theo 31]. Năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia giành cho các chương trình tư vấn học đường ra đời và kể từ đó ngành tư vấn học đường được xem như đã hoàn thiện.
Hiện nay hiệp hội các nhà tư vấn học đường Hoa Kỳ được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho chương trình tư vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới. Trong những năm 80 và 90 của thế kỷ XX, ở các nước châu Âu xu hướng khảo sát hỗ trợ hoạt động tâm lý học đường chỉ được phát hiện và được chú trọng. Hiện nay, việc hỗ trợ điều tra tâm lý học đường học sinh, sinh viên nói chung là điều tất yếu mà các trung tâm tư vấn trong các trường học từ bậc tiểu học đến đại học ở các nước châu Âu phải được chú trọng hàng năm, hàng quý. Các nghiên cứu về thang đo và công cụ đánh giá nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đang dần được chú trọng.
Các công cụ này hỗ trợ rất lớn cho các nhà tư vấn xây dựng mô hình tư vấn, hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của học sinh, sinh viên như McGannon, Carey & Dimmitt (2007) có nhận định: “Tư vấn học đường có tiềm lực to lớn trong việc giúp học sinh, sinh viên đạt các tiêu chuẩn cao hơn trong lĩnh vực học đường và cuộc sống điều này phần lớn phụ thuộc và các công cụ đo lường nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý và các phương pháp cải thiện hành vi của học sinh, sinh viên” (dẫn theo [39]). Ở Pháp, Hiệp hội tư vấn định hướng tâm lý Pháp có chức năng hướng dẫn tư vấn viên/nhà tâm lý, trao đổi thông tin, phát triển sự nghiệp tư vấn, tổ chức và tham gia các hội thảo quốc gia về tư vấn và tâm lý. Năm 1928, khóa đào tạo tư vấn hướng nghiệp đầu tiên tại Pháp, được tổ chức, sử dụng thử nghiệm Binet, sau đó là các khóa tư vấn học tập và hướng nghiệp, đến năm 1972 đổi tên là khóa đào tạo tư vấn viên định hướng, đến năm 1991 được chính thức công nhận bằng tâm lý học [39]. Ở Singapore có mô hình dịch vụ chăm sóc học sinh (Student Care Service - SCS).
Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho học sinh các cấp. Các nghiên cứu đã cho thấy, nội dung, đặc điểm, biểu hiện, mức độ của nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh khi học sinh có khó khăn về tâm lý. 8 Các nghiên cứu này nói chung đều được ứng dụng hiệu quả trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch chuẩn đoán phòng ngừa và can thiệp sớm trong học đường. Trong tài liệu “Tập huấn tham vấn cơ bản dành cho cộng đồng” của Unicef cũng đề cập đến vấn đề phân biệt giữa tư vấn và tham vấn, các kỹ năng tham vấn, vai trò của tham vấn trong đời sống cộng đồng.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã nêu được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tư vấn học đường trong trường phổ thông, các tác giả đã đưa ra được khái niệm, các tiêu chí cần có trong tư vấn học đường, tư vấn nghề nghiệp… Tuy nhiên các công trình trên chưa tập trung nghiên cứu các kỹ năng cần có của người GV trong việc nâng cao chất lượng tư vấn học đường trong các trường THPT. Ở Việt Nam Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực tâm lý ở Việt Nam từ thập kỷ 80, việc nghiên cứu kỹ năng tư vấn cũng bắt đầu được quan tâm. Nổi bật nhất trong các tài liệu tư vấn là các nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp, có thể kể đến một số nghiên cứu của tác giả: Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thế Tưởng, Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tìm hiểu công cụ đo lường tâm lý của các tác giả nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp.
Năm 2003, Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh” được Viện nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý, nhà giáo dục và hiệu trưởng các trường có hoạt động hỗ trợ tâm lý để “mổ sẻ” và kêu gọi sự quan tâm của giới chuyên môn cũng như các cơ quan chính phủ trong việc có các chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển các hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường tại Việt Nam. Cũng trong thời gian này một số sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học sư phạm Thành phố HCM đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình về tư vấn học đường. Trong những năm 2002 - 2006, tác giả Trần Thị Minh Đức đã công bố khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau có liên quan đến kỹ năng tham vấn tâm lý học đường. Đặc biệt, từ những công trình nghiên cứu của mình tác giả xuất bản cuốn: “Giáo trình tham vấn tâm lý” (2006).
Giáo trình đã hướng dẫn khá tỉ mỉ các nguyên tắc, quy trình, kỹ năng tham vấn, tư vấn tâm lý học đường. Đây là cuốn tài liệu tham khảo quý báu cho các giảng viên, giáo viên các cấp [16].