Chương 1: Cơ sở khoa học về bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện. Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam. 10 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CẤP HUYỆN 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Cấp huyện và đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 1. Khái niệm cấp huyện * Vị trí, vai trò cấp huyện Theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 và Quy định 29/QĐ/TW, hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn; cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp Trung ương. Trong đó quy định: Cấp Huyện: Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Ban Chấp hành đảng bộ Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc Tỉnh (Huyện uỷ, Quận uỷ, Thị uỷ, Thành uỷ); Cơ quan trực thuộc là: Các đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn; các đảng bộ cơ sở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang trực thuộc Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy và tương đương.
Cấp xã: Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Ban Chấp hành đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn (Đảng ủy, Chi ủy) Cơ quan trực thuộc là các đảng bộ bộ phận trực thuộc ban chấp chấp hành Đảng bộ cơ sở (nơi có đông đảng viên); các chi bộ trực thuộc ban chấp hành Đảng bộ cơ sở; các tổ đảng trực thuộc chi bộ cơ sở. Theo quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 cấp Huyện bao gồm: Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương. Theo quy định của pháp luật, cấp huyện chia thành 3 loại (I, II, III) (Điều 3, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015). Tuy nhiên, ngoài chia thành 3 loại trên, còn có chia theo: 11 Luan van - Huyện gắn với khu vực nông thôn; - Quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương gắn với khu vực đô thị.
Mỗi đơn vị hành chính cấp huyện đều được tổ chức chính quyền tương ứng. Chính quyền cấp huyện gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Cấp huyện là đơn vị hành chính lãnh thổ trung gian nằm giữa tỉnh và xã. Chính quyền địa phương cấp huyện chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp tỉnh và trực tiếp quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương cấp xã.
Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh với chính quyền địa phương cấp huyện và giữa chính quyền địa phương cấp huyện với chính quyền địa phương cấp xã được xem xét dưới hai góc độ: - Quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước, - Quan hệ trong việc cung cấp dịch vụ (kể cả dịch vụ hành chính công). Chính quyền địa phương cấp huyện ở Việt Nam bao gồm: - Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương; đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm với dân địa phương và với cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân thực hiện quản lý nhà nước mang tính chất lãnh thổ, gắn với ý chí, nguyện vọng của người dân trên địa bàn đơn vị hành chính lãnh thổ được phân công quản lý. - Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Ủy ban nhân dân thực hiện quản lý nhà nước các vấn đề của địa phương thông qua chấp hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Như trên đã nêu, có 5 loại chính quyền địa phương cấp huyện, trong đó 4 loại gắn với đô thị; huyện gắn với quản lý vùng nông thôn. Chính quyền quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn phân biệt với nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền huyện ở nông thôn. 12 Luan van * Mối quan hệ của cấp huyện với cấp tỉnh và cấp xã Trong hệ thống chính quyền 4 cấp, chính quyền cấp huyện là cấp trực tiếp quản lý chính quyền cấp xã và chỉ đạo, định hướng, kiểm tra hoạt động của chính quyền cấp xã.
Hiến pháp qua các thời kỳ cũng như Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, đã xác định ở mức độ nhất định mối quan hệ giữa các cấp quản lý trong hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam. Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của từng cấp. Đồng thời xác định mối quan hệ phân cấp, phối hợp. * Cấp Huyện trong xu hướng đổi mới theo Hiến pháp 2013 Hiến pháp 2013 kế thừa những thành tựu của các bản Hiến pháp trước đó, nhưng sự thay đổi những nội dung trong Hiến pháp 2013 thể hiện tư duy đổi mới về hoạt động của nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chính quyền địa phương các cấp.
Trước hết, không chỉ riêng cấp huyện, cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương được thống nhất bằng tên gọi chung là chính quyền địa phương. Tên gọi này phản ánh đúng thông lệ quốc tế và đồng thời cũng thể hiện tính thống nhất trong quản lý nhà nước đối với các vấn đề ở địa phương thuộc về một tổ chức là chính quyền địa phương. Hiến pháp 2013 đã sử dụng thuật ngữ “đơn vị hành chính tương đương” với quận, huyện, thị xã trong thành phố trực thuộc trung ương. Điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành một đơn vị hành chính trong thành phố trực thuộc trung ương, đó là “thành phố” thuộc “thành phố trực thuộc trung ương”.
Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”. Điều thay đổi lớn nhất khi xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 dựa vào Hiến pháp 2013 chính là xác định rõ ràng, cụ thể cơ 13 Luan van cấu tổ chức Ủy ban nhân dân cấp huyện và nhiệm vụ, quyền hạn của không chỉ đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện mà còn đối với chính chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Đây là một thay đổi cơ bản nhằm xác định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy Ủy ban nhân dân tránh việc sau này các văn bản dưới luật đưa ra quy định riêng. Hiến pháp 2013 cũng như Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định cụ thể hơn về thẩm quyền của chính quyền địa phương.
Cụ thể, chính quyền địa phương có 2 loại nhiệm vụ riêng biệt: - Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; - Quyết định các vấn đề của địa phương theo luật định. Trong một nhà nước đơn nhất như nước ta, nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của chính quyền địa phương là tổ chức và bảo đảm thực hiện Hiến pháp, pháp luật tại địa phương. Đồng thời, chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ xuất phát từ đặc thù của địa phương. Việc thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng này đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.
Thực tế, chính quyền địa phương các cấp trong nhà nước đơn nhất chỉ đóng vai trò thực thi quyền hành pháp hay là một phận cấu thành bộ máy hành pháp. Nếu như ở Trung ương, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội thì ở địa phương, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là những cơ quan thực thi quyền hành pháp. Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn. Chi tiết về quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy xem Luật Tổ chức chính quyền địa phương 1.
Đội ngũ báo cáo viên cấp Huyện * Khái niệm Báo cáo viên Báo cáo viên là lực lượng tuyên truyền miệng của Đảng được tổ chức 14 Luan van thành hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện, do cấp ủy lựa chọn và ra quyết định công nhận. Bên cạnh Báo cáo viên, tuyên truyền viên là chức danh để chỉ những người làm công tác tuyên truyền miệng, cổ động trực tiếp bằng lời nói đối với quần chúng Nhân dân. Báo cáo viên, tuyên truyền viên phối hợp với nhau, trở thành lực lượng tuyên truyền miệng có tổ chức, có hệ thống từ Trung ương tới đảng bộ, chi bộ cơ sở, tới từng cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đây là lực lượng chủ yếu trong công tác tuyên truyền miệng, có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, củng cố niềm tin, định hướng tư tưởng và hành động cho cán bộ, đảng viên, nhân dân theo đường lối, quan điểm của Đảng.
Trong hoạt động của mình, Báo cáo viên, tuyên truyền viên có quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng - đối tượng tuyên truyền miệng, trực tiếp góp phần quan trọng tạo nên sự đồng thuận xã hội. Chỉ thị số 17-CT/TW quán triệt rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, xác định đây là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất, trực tiếp truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phổ biến giáo dục, quán triệt các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các vấn đề thời sự quan trọng trong và ngoài nước, tạo sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng và sự đồng thuận trong toàn xã hội. Đồng thời đây là một trong những vũ khí sắc bén, kịp thời đấu tranh chống âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Chỉ thị nêu rõ, công tác tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của toàn Đảng, các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến cơ sở, các đảng viên đều có trách nhiệm làm nhiệm vụ tuyên truyền miệng, trực tiếp tham gia tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.