mở đầu cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu khách quan mở cửa nền kinh tế. Đại hội Đảng VI chủ trương: “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”, và xác định: “nhiệm vụ đối ngoại quan trọng trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điêu kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”. Đến Đại hội IX (2001) Đảng ta khẳng định đường lối xây dựng nên ` TS. Lê Danh Vĩnh — Thứ trưởng Bộ Thương mại, phát biểu khai mạc hội thảo khoa học quốc gia, 2003 16 kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đường lối này khẳng định chỉ trên cơ sở là nền kinh tế thị trường mới có thể hội nhập được và chính hội nhập lại tạo điều kiện xây dựng hoàn thiện nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay. Quá trình xây đựng nền kinh tế thị trường lại đòi hỏi phải mở cửa nên kinh tế cho nên Đại hội Đảng ta đã khẳng định đường lối đối ngoại “đa đạng hoá, đa phương hoá”. Từ đường lối đối ngoại đó nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế, trước hết là lĩnh vực kinh tế. Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bên vững”.
Ngày 27/11/2001, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nêu rõ mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế: “Chi động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn mình, trước mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 2001 - 2010”. Thực hiện các chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên, Việt Nam đã triển khai tiến trình hội nhập rộng lớn, liên tục và hiệu quả trong thời gian qua, trong đó có việc gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Không chỉ dừng lại ở nhận thức, chủ trương, trên thực tế, Việt Nam đã liên tục, nhất quán thực hiện các bước hội nhập kinh tế quốc tế quan trọng: - Hội nhập ASEAN và thực hiện chương trình thuế quan ưu đổi có hiệu lực chung CEPT Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập ngày 8/8/1967 với mục tiêu thúc đấy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa, cũng cố hòa bình và ổn định khu vực và là diễn đàn để giải quyết những vấn 17 để này sinh trong khu vực. Năm 1992, các nước ASEAN quyết định thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN, dựa trên các yếu tố cơ bản sau: (1) Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT); (2) Thống nhất công nhận tiêu chuẩn hóa giữa các nước thành viên; (3) Xóa bỏ những quy định hạn chế đối với hoat động thương mại; (4) Tăng cường họat động tư vấn kinh tế vĩ mô.
Trong các yếu tố trên, chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung có vai trò quan trọng nhất. Về thực chất, đây là một hiệp định về mở cửa thị trường hàng hóa với việc cát giảm thuế quan và giảm thiểu các rào cần khác, loại bỏ các biện pháp bảo hộ và các hàng rào thương mại để giúp cho luồng hàng hoá giao lưu giữa các nước thành viên tự do hơn, thông thoáng hơn. Theo Chương trình CEPT, các nước ASEAN sẽ dan dan cat giảm thuế quan trong buôn bán giữa các nước thành viên ASEAN xuống con tir 0 - 5%. Thời hạn thực hiện CEPT đối với các quốc gia ASEAN đầu tiêu là 2003, Việt Nam là 2006, Lào, Mianma năm 2008 và Campuchia nam 2010.
Lịch trình hội nhập ASEAN thực hiện CEPT/AFTA của Việt Nam bắt đầu từ tháng 7/1995 khi Việt Nam được kết nạp làm thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á. Khi trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam đã lần lượt cam kết tham gia các chương trình hợp tác kinh tế lớn trong ASEAN vẻ thương mại, đầu tư, dịch vụ, công nghiệp. Chương trình hợp tác về thương mại thông qua Khu vực mậu dịch tự do ASEAN viết tắt là AFTA. Chương trình hợp tác về công nghiệp trong ASEAN (AICO); Chương trình hợp tác đầu tư trong Khu vuc dau tu ASEAN (AIA).
Tại Hội nghị Hội đồng AFTA ngày 10/12/1995, Việt Nam đã công bố các danh mục và lộ trình cắt giảm thuế quan từ 01/01/1996 cho toàn bộ thời kỳ 1996-2000, gồm 1633 nhóm mặt hàng, chiếm 50,1% tổng các nhóm mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam. Năm 1996, Việt Nam đã công bố đưa thêm vào danh mục cất giảm ngay 857 mặt hàng. Năm 1997, Việt Nam tiếp tục đưa thêm vào diện thực hiện CEPT 621 mặt hàng, năm 1998 là 18 137, năm 1999 là 1949 và năm 2000 là 640 mặt hàng”. Năm 2003, Việt Nam đưa thêm 1.374 mặt hàng vào danh mục cắt giảm, nâng tổng số mặt hàng vào điện cất giảm thuế lên 10.
Đến 2006, Việt Nam đã đưa các mặt hàng còn lại vào điện cất giảm thuế và phải giảm thuế suất các mặt hàng này xuống còn 0-5%, trừ 139 mặt hàng nằm trong danh mục loại trừ hoàn toàn và 51 mặt hàng nhạy cảm có lộ trình giảm thuế chậm hơn”. Ví dụ mặt hàng đường sẽ thực hiện CEPT vào năm 2010. Ngoài thực hiện lộ trình cất giảm thuế quan theo cam kết, Việt Nam: còn thực hiện các cam kết khác như hợp tác trong việc thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, công nhận lẫn nhau về kiểm tra và chứng nhận chất lượng, loại bỏ đần các rào cản đối với đầu tư nước ngoài. Trong lĩnh vực hải quan, Việt Nam đã hợp tác với các nước ASEAN trong việc thống nhất danh mục biểu thuế quan ASEAN, thực hiện các cam kết về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan, áp dụng thống nhất Hiệp định trị giá hải quan của WTO.
- Việt Nam tham gia sáng lập ASEM: Vào cuối năm 1994, Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong đã đưa ra sáng kiến và dé nghị với Thủ tướng Pháp về việc tổ chức một Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy hợp tác giữa hai châu lục. Sáng kiến này đã nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của nhiều nước Á ~ Âu. Tháng 3 năm 1996, Hội nghị nguyên thủ các quốc gia về hợp tác Á - Âu (Asia Europe Summit Meeting - ASEM) lân đầu tiên được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan với sự tham gia của các nguyên thủ 15 nước thuộc Liên minh châu Âu và 10 nước chau A (bao gồm 7 nước ASEAN trong đó có Việt ” Nam và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc). ˆ Bộ Tài chính, Lịch trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam để thực hiện khu vực mậu dịch tự do CEPTIAETA, NXB Tai chinh ,1998.
> Truong Chi Trung, Cai cdch thi tuc hdi quan dé héi nhập, thời báo kinh tế số 39, 8/3/2004. * Lương Văn Tự, Việt Nam thực hin cam két AFTA, http://www.vn 19 Tại Hội nghị này, diễn đàn hợp tác Á - Âu đã chính thức ra đời và lấy tên hội nghị đầu tiên (Asia Europe Summit Meeung - ASEM) làm tên cho chương trình hợp tác giữa hai châu lục. Việt Nam trở thành nước tham gia sáng lập ASEM. Sự ra đời của diễn đàn ASEM một lần nữa chứng mình cho xu thế khách quan của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, tiến tới hình thành một thị trường thống nhất trên thế giới.
Từ những liên kết tầm châu lục như ASEAN, đã hình thành những mối liên kết liên châu lục là ASEM. ASEM đã trải qua 5 hội nghị. Hội nghị ASEM 5 tổ chức tại Hà Nội ngày 8, 9 - 10 - 2004 đã kết nạp thêm 13 thành viên mới nâng tổng số lên 39 thành viên. - Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC):.
Tháng 11/1997, Hội nghị cấp cao APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương) tại Vancouver, Canada đã quyết định kết nạp Việt Nam cùng với các quốc gia Nga và Peru. Tại hội nghị cấp cao APEC lần thứ VI tai Kuala Lumpua(Malaixia) 11/1998, Việt nam đã trở thành thành viên chính thức của diễn đàn. Với 21 nước và vùng Jinh thổ, chiếm 57% tổng GDP toàn cầu, 46% thương mại toàn cầu, APEC là liên kết kinh tế - thương mại khu vực lớn nhất thế giới, trong đó bao gồm cả các thành viên là những siêu cường, kinh tế và những nền kinh tế lớn, năng động như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, Trung Quốc, Hàn Quốc. -_ Việt Nam đàm phán gia nhập Tổ chức thương mai thế giới: Ngay sau khi Hiệp định chung về thuế quan và thương mai (GATT) két thúc và Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập, Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập.
Tháng 12/1994, theo Quyết định của Bộ Chính trị (số 1015 CV/VPTW ngày 22/11/1994), Viet Nam đã gửi đơn xin gia nhập Tổ chức 20 Thương mại Thế giới (WTO). Ngày 1/1/1995, ngày đầu mở cửa, WTO tiếp nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam và Việt Nam trở thành quan sát viên của tổ chức này. Về mặt bản chất, khi gia nhập WTO, Việt Nam có quyền tiếp cận thị trường của tất cả các nước thành viên khác theo quy tắc tối huệ quốc. Nghĩa là Việt Nam sẽ được hưởng những thành quả đấu tranh, nhân nhượng lẫn nhau giữa các thành viên trong lĩnh vực thuế và cắt giảm thuế quan.
Để được hưởng lợi thế này, Việt Nam cũng phải cam kết chấp nhận các nguyên tắc đa biên, giảm thuế, cam kết giảm bảo hộ thông qua hạ thuế suất; thiết lập lộ trình loại bỏ các hàng rào phi thuế, nhất là các biện pháp hạn chế số lượng, hạn ngạch, giấy phép. Còn trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam cũng phải cam kết mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mức độ mở cửa thông qua đàm phán song phương đối với tất cả các thành viên. Để thực hiện việc này, Việt Nam đã đưa ra các bản chào.
Bản chào thứ ba trong phiên 7 mức thuế trung bình là 22%. Bản chào số 4 vào tháng 4/2004 (mức thuế bình quân còn khoảng 18%) đã được các đối tác chấp nhận và đánh giá là bản chào có bước tiến nhảy vọt và là cơ sở để đàm phán.