CHƯƠNG 1 BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THEO ĐỀ ÁN 165 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1. Bồi dưỡng và bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn + Quan niệm về bồi dưỡng Bồi dưỡng là việc làm tăng thêm các tố chất của con người như kiến thức các mặt kinh nghiệm trong lao động, trong công tác chuyên môn nghiệp vụ hoặc trong lãnh đạo, quản lý. Bồi dưỡng ngắn hạn là hoạt động nhằm làm cho người học có được những kiến thức, kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ nhất định trong khoảng thời gian từ hai tuần đến hai tháng.
Bồi dưỡng trung hạn là hoạt động nhằm làm cho người học có được những kiến thức, kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ nhất định trong khoảng thời giantừ ba tháng đến một năm. Quan niệm bồi dưỡng trên đây có nghĩa chung nhất là hoạt động nhằm bổ sung cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn mới cho cán bộ khi mà những kiến thức, kỹ năng được đào tạo trước đây đã lạc hậu không đủ thực hiện có hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trong tổ chức đó. Sự thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội diễn ra thường xuyên dưới tác động của tiến bộ khoa học, công nghệ và phát triển của khoa học quản lý làm cho những kiến thức kỹ năng chuyên môn của cán bộ trong mỗi cơ quan luôn bị lạc hậu đòi hỏi phải được bồi dưỡng thường xuyên. Đó cũng là một trong những lý do cơ bản là học tập liên tục, suốt đời trong cuộc sống hiện đại của tất cả các tổ chức nhà nước cũng như ngoài nhà nước.
Bồi 8 Luan van dưỡng thường có thời gian ngắn, một hoặc hai tuần, dài là một, hai tháng. Bồi dưỡng được xác nhận bởi các chứng chỉ. Trong lịch sử đấu tranh của xã hội loài người, mọi giai cấp thống trị đều sử dụng giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng làm công cụ sắc bén để truyền bá những tư tưởng chính trị của mình trong quần chúng nhân dân, để tạo ra được những người có khả năng chuyển hoá ý thức giai cấp trong thực tiễn, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Điều đó càng cần thiết trong việc xây dựng một lực lượng tiên phong, có trình độ lãnh đạo, quản lý tốt nắm giữ những cương vị trọng trách trong hệ thống bộ máy thống trị và lãnh đạo.
Mác, Ăngghen không chỉ là nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, hai ông còn là những người đem lý luận khoa học đó kết hợp với phong trào công nhân, thành lập nên tổ chức cộng sản đầu tiên trên thế giới.Ăngghen rất coi trọng việc xây dựng, đào tạo đội ngũ những người làm nhiệm vụ truyền bá lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào phong trào công nhân, nhằm giác ngộ, tổ chức phong trào đi đến thành lập chính đảng của giai cấp vô sản. Đó là đội ngũ cán bộ đầu tiên của giai cấp vô sản, chính họ là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng. Từ khi xuất hiện trên vũ đài lịch sử và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, C.Ăngghen cho rằng cần phải có một đội ngũ cán bộ vừa có lòng trung thành với lý tưởng của giai cấp, vừa có tri thức lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn mới có thể đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đó. Muốn có được đội ngũ như vậy, thì phải quan tâm đến việc phát hiện lựa chọn, đào tạo, rèn luyện nhà cách mạng (được hiểu là người cán bộ lãnh đạo) thông qua phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đội ngũ cán bộ có một vị trí rất quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử lúc 9 Luan van ấy, chưa có một Đảng Cộng sản nào giành được quyền lãnh đạo, nên hai ông viết chưa nhiều về cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nhưng cuộc đời hoạt động của C.Ăngghen đã để lại cho giai cấp vô sản, phong trào cộng sản quốc tế những tư tưởng quý báu, đặt tiền đề giúp chúng ta nghiên cứu, suy nghĩ về vấn đề cán bộ trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Lê nin đã chỉ ra: “ Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[V.
Lênin toàn tập Tập 4, tr 43, Nxb Tiến bộ Matxcơva, H 1974]. Lênin luận giải rằng: “Chính trị là một khoa học và nghệ thuật không phải từ trên trời rơi xuống, mà đòi hỏi một sự cố gắng, rằng giai cấp vô sản muốn chiến thắng giai cấp tư sản thì phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp” thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản” [V. Lênin toàn tập T 41, Nxb Tiến bộ Matxcơva, H 1974, tr 80, 81]. Qua thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, V.Lênin chỉ rõ vai trò, vị trò của công tác cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, vì vậy V.Lênin quyết định mở các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và Người trực tiếp giảng dạy ở các trường đó.
Chính đội ngũ cán bộ được đào tạo, ồi dưỡng đã góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ thập niên đầu của thế kỷ XX, trước cảnh nước mất nhà tan, đồng bào lầm than, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước. Đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc vàmuốn làm cách mạng thành công trong đó phải quan tâm đến cán bộ và công tác đào tạo, 10 Luan van huấn luyện cán bộ, Người coi đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành, bại của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhận thức được vị trí, vai trò của công tác bồi dưỡng cán bộ trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán.
Từ những năm 1925, để chuẩn bị cán bộ cho phong trào cách mạng trong nước đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn, tập hợp những thanh niên ưu tú đưa ra nước ngoài để đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng về lý luận chủ nghĩa cộng sản. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho phong trào cách mạng. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 2, tháng 3/1931 đã nhấn mạnh: “Việc đào tạo nhân tài để làm việc Đảng là một vấn đề rất cần kíp. là điều kiện cốt yếu cho sự phát triển của Đảng”.
Hội nghị quyết nghị rằng: “Ban Trung ương và các xứ phải đặc biệt mở các lớp huấn luyện đồng chí, đào tạo các cán bộ am hiểu con đường chính trị và những chính sách tổ chức mới, biết đối phó với các biến cố xảy ra bởi những thời cục thay đổi ở trong xứ và trên trường quốc tế và đủ năng lực lãnh đạo dân chúng trong cuộc đấu tranh đòi tự do, hoà bình, cơm áo”. Năn 1927, chuẩn bị những tiền đề cần thiết để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đích thân, trực tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ cho Đảng và tích cực chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền thuộc về tay nhân dân, tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến hành hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhất là khi miền Bắc hoà bình, bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh rất quan tâm và luôn chỉ đạo chặt chẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Bằng kinh nghiệm thực tiễn và những năm tháng hoạt động 11 Luan van cách mạng ở nước ngoài, thấy được tầm quan trọng của công tác cán bộ, cũng như vị trí, vai trò của người cán bộ, Người chỉ rõ: “… Cán bộ là cái gốc của mọi công việc.
Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H 1975, tr 269. “Huấn luyện cán bộ là một việc rất cần. Tục ngữ có câu: “không thầy đố mày làm nên”, và câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Những việc rất dễ dàng còn phải học.
Huống chi công việc cách mạng, công việc kháng chiến, không có huấn luyện thì làm sao xuôi?”. Hồ Chí Minh coi công tác đào tạo, bồi dưỡng nói chung, trong đó có đào tạo nhân tài là trọng yếu và rất cần thiết, “Đảng phải nuôi dậy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải coi trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 19]. Mặt khác, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo phải tổ chức tốt từ việc bố trí giáo viên đảm nhận việc giảng dậy, đồng thời coi huấn luyện và học tập không phải là một việc đơn giản: Huấn là dậy dỗ, luyện là rèn dũa, do đó muốn làm tốt công tác huấn luyện thì phải hiểu rõ người học để nâng cao khả năng và tẩy rửa khuyết điểm cho họ.
Huấn luyện phải chú trọng việc cải tạo tư tưởng, đồng thời phải làm cho người học hiểu được tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin tưởng. Mục đích đào tạo, bồi dưỡng là “Để làm việc, làm người, làm cán bộ”. “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”[Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 19].
Nội dung huấn luyện phải thiết thực, chu đáo, học lý luận phải liên hệ với thực tiễn. Đó là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin.