Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chất lượng giáo dục và đánh giá Trước hết, ta cần hiểu được khái niệm “chất lượng”. Hiện nay có rất nhiều quan điểm về “chất lượng”. Nguyễn Hữu Châu (2008) đưa ra các cách tiếp cận khái niệm "chất lượng": (1) Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất).
(2) Chất lượng được xem xét trên cơ sở những thuộc tính đo được. Điều đó có nghĩa là chất lượng có thể được đo lường khách quan và chính xác. (3) Chất lượng được xem như sự phù hợp với nhu cầu. (4) Chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu), là "đáp ứng được nhu cầu khách hàng".
Vấn đề là mục đích (mục tiêu) phải được xác định đúng đắn, chính xác. Theo Nguyễn Kim Dung và Phạm Xuân Thanh (2003), chất lượng: là sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo đối với các chuẩn mực và tiêu chí đã được xác định. Về khái niệm “Chất lượng giáo dục”, theo Từ điển giáo dục học, đó là tổng hòa những phẩm chất và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội nhất định. Có chất lượng giáo dục toàn diện và từng mặt tùy theo góc độ đánh giá.
Chất lượng giáo dục có tính lịch sử cụ thể và luôn luôn tùy thuộc vào các điều kiện xã hội đương thời, trong đó có các thiết chế, chính sách và lực lượng tham gia giáo dục. Chất lượng giáo dục không đơn thuần là trình độ học tập, rèn luyện được đánh giá bằng điểm số các môn thi mà quan trong hơn bằng những kết quả thực tế và bằng hiệu quả sử dụng những phẩm chất và năng lực của sinh viên trong hoạt động thực tiễn ở nhà trường, gia đình và xã hội [5]. Một trong những công cụ trong lĩnh vực chăm lo chất lượng là đánh giá chất lượng. Đánh giá chất lượng là một hoạt động có cấu trúc nhằm đưa ra sự 4 xem xét về chất lượng của quá trình dạy/học và/hoặc nghiên cứu khoa học bao gồm tự đánh giá hay đánh giá bởi chuyên gia bên ngoài.
Việc đánh giá sinh viên là một trong những yếu tố quan trọng nhất của giáo dục đại học. Kết quả đánh giá có ảnh hưởng sâu sắc đến nghề nghiệp tương lai của sinh viên [6]. Việc đánh giá còn cung cấp thông tin cho nhà trường về hiệu quả của công việc giảng dạy và việc hỗ trợ người học. Quy trình đánh giá người học cần phải [7]: (1) Được thiết kế để đánh giá việc đạt được những kết quả học tập dự kiến cũng như những mục tiêu khác của chương trình.
(2) Phù hợp với mục đích đánh giá, như đánh giá chẩn đoán, đánh giá quá trình, hay đánh giá tổng kết; có các tiêu chí chấm điểm được nêu rõ ràng. (3) Được thực hiện bởi những người có hiểu biết về vai trò của đánh giá; nếu có thể, không đánh giá dựa trên phán đoán của duy nhất một giám khảo. (4) Cân nhắc xem xét mọi quy định liên quan đến thi cử để lường trước những trường hợp có thể xảy ra liên quan đến quy định thi cử. (5) Bảo đảm rằng việc đánh giá được tiến hành theo đúng quy trình.
(6) Chịu sự kiểm chứng của bộ phận quản lý rà soát thường xuyên để bảo đảm tính chính xác của quy trình. Trên thế giới hiện nay có hơn 1,3 triệu người có hậu môn nhân tạo hay còn gọi là lỗ mở thông ra da. Hằng năm tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có thêm khoảng 100 người mang hậu môn nhân tạo tạm thời hay vĩnh viễn. Thực tế cho thấy rằng việc chăm sóc hậu môn nhân tạo cho những người bệnh nói trên đóng vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh, vì vậy người Điều dưỡng cũng phải được trang bị những kỹ năng cần thiết để hiệu quả chăm sóc người bệnh được cao nhất.
Việc đánh giá kỹ năng chăm sóc hậu môn nhân tạo của sinh viên được dựa trên chuẩn đầu ra của môn học Chăm sóc người bệnh Ngoại khoa 2 được quy định trong đề cương chi tiết học phần bao gồm: - Tích lũy được các kiến thức về lĩnh vực điều dưỡng ngoại khoa người lớn làm nền tảng cho việc thu thập và phân tích thông tin về sức khỏe và bệnh tật từ 5 đó đưa ra các biện pháp chăm sóc phù hợp với nhu cầu của người bệnh ngoại khoa, gia đình và cộng đồng. - Sử dụng được các kiến thức điều dưỡng ngoại khoa người lớn để xây dựng các nội dung, lập kế hoạch, tư vấn cho người bệnh và cộng đồng về kiểm soát và phòng bệnh trong lĩnh vực ngoại khoa người lớn. - Ứng dụng các bằng chứng khoa học, tin học và ngoại ngữ nhằm cải thiện kiến thức thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong chăm sóc điều dưỡng Ngoại khoa người lớn. - Vận dụng được kiến thức điều dưỡng ngoại khoa người lớn trong phát hiện, giải quyết vấn đề và lập kế hoạch sơ cứu, cấp cứu ngoại khoa trong những tình huống khẩn cấp, nguy kịch đơn lẻ và hàng loạt.
- Áp dụng được kiến thức điều dưỡng ngoại khoa người lớn để thực hành chăm sóc theo tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp người điều dưỡng. - Có ý thức vươn lên thể hiện qua việc tự học thường xuyên để nâng cao kiến thức điều dưỡng trong lĩnh vực ngoại khoa. Năng lực Hiện nay, ngành Điều dưỡng đã có sự phát triển nhanh chóng, Điều dưỡng đã trở thành một ngành học với nhiều cấp, nhiều cơ sở đào tạo điều dưỡng đại học và sau đại học. Cùng với sự phát triển đó các chính sách về điều dưỡng viên và các chuẩn mực hành nghề điều dưỡng đang được bổ sung, hoàn thiện.
Vai trò và vị thế nghề nghiệp của điều dưỡng viên đã có những thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, ngành điều dưỡng đang đứng trước nhiều thách thức của sự phát triển: thiếu đội ngũ giáo viên điều dưỡng chuyên sâu, chưa theo kịp những tiến bộ của Điều dưỡng thế giới; người điều dưỡng chưa được đào tạo để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh mang tính chủ động và chuyên nghiệp; nguồn nhân lực điều dưỡng mất cân đối về cơ cấu dẫn đến sử dụng chưa phân biệt rõ trình độ đào tạo, kỹ năng, kỹ xảo; vị thế và hình ảnh người điều dưỡng trong xã hội tuy đã có thay đổi nhưng chưa được định hình rõ ràng. 6 Đào tạo sinh viên điều dưỡng trở thành lực lượng lao động xã hội trong thời kỳ đổi mới là một nhiệm vụ đầy thách thức mà hệ thống y tế các nước hiện đang phải đối mặt. Các chính sách về điều dưỡng viên và các chuẩn mực hành nghề điều dưỡng đang được bổ sung, hoàn thiện.
Vai trò và vị thế nghề nghiệp của điều dưỡng viên đã có những thay đổi cơ bản. Việc đánh giá năng lực chăm sóc người bệnh của sinh viên là một yêu cầu không thể thiếu đối với một cơ sở đào tạo điều dưỡng nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giảng dạy. Trong hầu hết các trường đại học ở nước ngoài, việc sinh viên đánh giá hoạt động học thực hành là một nguồn thông tin rất quan trọng. Theo Từ điển giáo dục học, năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển, cho phép một con người đạt thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp.
Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một nhiệm vụ. Năng lực chỉ hiệu quả khi nó được chứng minh, trong trường hợp ngược lại, nó chỉ là giả định hoặc không có thực. Năng lực có thể bẩm sinh hoặc do rèn luyện mà chiếm lĩnh được. Nó phát triển bởi kinh nghiệm hoặc bởi việc học tập phù hợp với tính cách riêng biệt của cá nhân.
Năng lực được coi như khả năng của con người khi đối mặt với những vấn đề mới và những tình huống mới; gợi tìm lại được những tin tức và những kỹ thuật đã được sử dụng trong những thực nghiệm trước đây [8]. Khả năng của một người hoàn thành được những nhiệm vụ phức tạp, việc hoàn thành này đòi hỏi phải thi hành một số lượng lớn thao tác đối với những nhiệm vụ thường gặp trong thực hành nghề. Tác giả Bùi Hiền cũng đưa ra khái niệm “năng lực nghề nghiệp”, chính là khả năng thực hiện hiệu quả một nghề, một chức năng hoặc một số nhiệm vụ chuyên biệt với sự thành thạo cần thiết. Tùy theo tính chất công việc và tính nghề nghiệp chuyên môn, năng lực nghề nghiệp có thể là năng lực tiến hành độc lập công tác nghiên cứu khoa học và sáng tạo trong công tác chuyên môn; năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực của mình; năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn.
7 Bất cứ năng lực nào cũng đều tích hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ: các kỹ năng thực hành, giao tiếp, giải quyết vấn đề và các kỹ năng trí tuệ; thái độ lao động nghề nghiệp; khát vọng học tập và cải thiện kỹ năng ; khả năng thích ứng để thay đổi; khả năng áp dụng kiến thức vào công việc; ý thức và khả năng hợp tác, làm việc cùng với người khác,… trong đó kỹ năng thực hành là biểu hiện cao nhất của năng lực thực hiện[9]. Hiểu theo nghĩa hẹp, kỹ năng là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng tri thức/kinh nghiệm thực hiện một hoạt động nào đó trong những môi trường quen thuộc. Hiểu theo cách này kỹ năng có được là do kinh nghiệm, thực hành,… làm nhiều thành quen mà thiếu những hiểu biết/thiếu những tri thức, không giúp cá nhân thích ứng khi hoàn cảnh điều kiện thay đổi. Hiểu theo nghĩa rộng, kỹ năng bao hàm những kiến thức, những hiểu biết giúp cá nhân thích ứng khi hoàn cảnh điều kiện thay đổi, cách hiểu kỹ năng giống như năng lực.
Đối với nghề điều dưỡng, công việc luôn phải tiếp xúc với các tình huống chuyên môn và các tình huống giao tiếp, năng lực nghề nghiệp được đề cập ở đây là năng lực hành động. Ngày 21/4/2012, Bộ Y tế ban hành tại quyết định số: 1352/QĐ-BYT kèm theo Bộ chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam được cấu trúc theo khuôn mẫu chung của điều dưỡng khu vực Châu Á Thái Bình Dương và ASEAN để đáp ứng yêu cầu của khu vực, để dễ so sánh và hòa nhập với chuẩn năng lực điều dưỡng các nước. Bộ chuẩn năng lực cơ bản điều dưỡng Việt Nam được cấu trúc thành 3 lĩnh vực, 25 tiêu chuẩn và 110 tiêu chí [3].