Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trong nước Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chủ trường đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thực sự là những định hướng quan trọng cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Tác giả Phạm Xuân Thanh đã đưa ra hai cách tiếp cận trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học. Trong kỷ yếu Hội thảo “Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học” tháng 10/ 2006 của Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả đã nghiên cứu về vấn đề xây dựng các chỉ số thực hiện. Theo nghiên cứu của tác giả, chất lượng giáo dục đại học đang được quan tâm. Nhiều nhà giáo, nhà quản lý và xã hội đang mong muốn có những công cụ để đo đếm chính xác chất lượng đào tạo, để có thể so sánh giữa các trường đại học.
Nhưng để có kết quả là không dễ. Trên thế giới, tuỳ theo từng mô hình giáo dục đại học của từng nước mà áp dụng các phương thức đánh giá chất lượng và quản lý chất lượng giáo dục khác nhau. Hai cách tiếp cận đánh giá chất lượng giáo dục đại học được sử dụng rộng rãi trên thế giới là đánh giá đồng nghiệp (peer review) và đánh giá sản phẩm (outcome assessment). Đầu tháng 12/2004, Bộ GD-ĐT đã ban hành bộ tiêu chuẩn kiểm định trường đại học.
Theo yêu cầu của Chính phủ, trong năm học 2005-2006 sẽ tiến hành kiểm định 20% số trường đại học; trong 2-3 năm tiếp theo sẽ hoàn thành đợt 1 việc kiểm định các trường đại học theo hai nhóm tiêu chí chủ yếu là đào tạo và nghiên cứu khoa học. Song song với bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường đại học, để khắc phục những nhược điểm đã nói ở trên, cần xây dựng và ban hành bộ chỉ số thực hiện giáo dục đại học để làm công cụ đánh giá thường xuyên. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tìm hiểu trong những năm qua, có tham khảo các bộ chỉ số thực hiện của Australia, Anh, Hà Lan… tác giả bài báo này đề xuất bộ chỉ số thực hiện giáo 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục đại học Việt Nam gồm 3 phần với 20 tiêu chí, mỗi tiêu chí có một số chỉ số thực hiện. Tác giả Phạm Quốc Khánh - Học Viện ngân hàng đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Ứng dụng bộ chỉ số hoạt động KPI đối với các khoa chuyên ngành phục vụ triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục đại học” (2012).
Theo nghiên cứu của tác giả, trong hoạt động của các doanh nghiệp, bộ chỉ số hoạt động KPI là hệ thống các chỉ tiêu (chủ yếu là định lượng) phấn đấu ở từng cấp độ (cấp quản lý, các phòng ban, cá nhân,…) trong một khoảng thời gian nhất định (thường là hằng năm) nhằm đạt được mục tiêu hoạt động chung của các doanh nghiệp. Những đặc điểm chính của KPI giúp bộ chỉ số này trở thành công cụ đảm bảo chất lượng hoạt động liên tục của mỗi tổ chức (nhiều cấp độ), thể hiện: Mục tiêu Các thành tố Bộ chỉ số chung của tổ quyết định đến hoạt động chức thành công của KPI tổ chức KSF Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Quốc Khánh, ở nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, các khoa chuyên ngành thực hiện những nhiệm vụ quản lý chuyên môn, học thuật chính, xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch và các công tác quản lý của từng ngành đào tạo nên có đặc điểm của một phòng – ban trong tổ chức. Với những nhiệm vụ nói trên, các khoa chuyên ngành góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệmvụ của từng giai đoạn tại cơ sở giáo dục đại học. Vì vậy, việc áp dụng thành công bộ chỉ số thực hiện KPI ở các khoa chuyên ngành sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong trong quản lý đào tạo tại cơ sở giáo dục theo hướng hiệu quả và chất lượng.
Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Bích Hồng - Phòng Xây dựng và Phát triển chiến lược thuộc Viện Chiến lược Ngân hàng với đề tài:“Các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống đãi ngộ ở các ngân hàng thương mại” (20/07/2011) tác giả đã nêu: Một chính sách đãi ngộ hiệu quả phải đảm bảo ba mục tiêu chính. Một là, thúc đẩy nhân viên làm việc và một cách tự giác và chủ động thông qua việc tạo ra một 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trường làm việc có quy định trách nhiệm quyền hạn rõ ràng và công khai; Hai là, hỗ trợ việc đạt được mục tiêu chung của toàn công ty bao gồm cả mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn. Cuối cùng là thu hút và giữ được những nhân viên làm việc hiệu quả nhất. Một số ngân hàng thương mại lớn, những năm gần đây, cũng bắt đầu quan tâm tới việc xây dựng một hệ thống đánh giá nhân sự một cách bài bản dựa trên các chỉ số đánh giá thực hiện công việc (Key performance indicators).
Với mỗi vị trí sẽ có bản mô tả công việc hoặc kế hoạch làm việc hàng tháng. Nhà quản lý sẽ áp dụng các chỉ số để đánh giá hiệu quả của vị trí đó. Các Ngân hàng sẽ căn cứ vào KPI để có chế độ lương thưởng cho từng cá nhân, đặc biệt đây cũng là căn cứ để chia thưởng cuối năm cũng như các quyết định tăng lương hay bổ nhiệm khác. Mặc dù vậy, trên thực tế hệ thống đánh giá này thường dựa vào các mục tiêu đề ra một cách chủ quan theo hướng đưa từ trên xuống, không cụ thể hoặc chỉ chú trọng vào mục đích ngắn hạn do đó chưa phục vụ hiệu quả cho việc cung cấp đầu vào cho chính sách đãi ngộ tương xứng với kết quả thực hiện công việc cũng như hướng tới việc đáp ứng mục tiêu chung của mỗi ngân hàng.
Các chỉ số đánh giá (KPI) thường khá chung chung, hoặc nếu có cụ thể thì lại rất khó tính toán, thường không thể xuất dữ liệu trực tiếp từ hệ thống mà phải tính toán một cách thủ công, rất mất thời gian và không hiệu quả. Tác giả đã đưa ra giải pháp xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên (KPI) cụ thể cho từng vị trí với những tiêu chuẩn và thang điểm rõ ràng để đánh giá đúng năng lực làm việc của từng cá nhân, từ đó có cơ chế lương thưởng phù hợp, cũng như xác định được những nhân viên có năng lực để có chính sách đãi ngộ thích hợp, tạo môi trường làm việc tốt để họ có cơ hội phát triển và gắn bó lâu dài. Đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để có thể dễ dàng tính toán một cách chính xác và tự động các chỉ tiêu KPI. Triển khai thực hiện Nghị định thư hợp tác với Australia về việc nghiên cứu áp dụng Lean Six Sigma và KPI vào các doanh nghiệp Việt Nam, ngày 21.2011, Trung tâm Năng suất Việt Nam (Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Bộ KH&CN) đã tổ chức Hội thảo “Nâng cao hiệu quả cải tiến thông qua áp dụng chỉ số đo lường hiệu suất - KPI” nhằm giới thiệu và hướng dẫn về áp dụng KPI trong các 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dự án cải tiến tại doanh nghiệp.
Hội thảo đã nghe các chuyên gia Australia trình bày các nội dung: Cấu trúc của mô hình hoạt động xuất sắc; các yếu tố chính thúc đẩy hoạt động sản xuất - kinh doanh; mục tiêu của doanh nghiệp và thực hiện các dự án cải tiến; phương pháp thiết lập KPI và hệ thống theo dõi, báo cáo việc thực hiện KPI; cải tiến quá trình và quản lý dựa trên hiệu quả hoạt động kinh doanh… Tóm lại, việc xác định và sử dụng các chỉ số thực hiện là cần thiết và cấp bách. Tuy chưa có sự thống nhất về khái niệm, các chỉ số thực hiện đã được sử dụng vào quản lý chất lượng ở nhiều nơi trên thế giới. Các chỉ số thực hiện rất đa dạng được xem như các tiêu chí cho các cuộc đánh giá khác nhau. Để xác định mức độ chất lượng cụ thể của sản phẩm đào tạo, chuẩn mực chất lượng được quy định trên cơ sở các chỉ số thực hiện.
Những nghiên cứu trên thế giới Chỉ số đo lường hiệu suất hay còn gọi là chỉ số thực hiện (Key Performance Indicator - KPI) là chỉ số đánh giá mức độ hiệu quả đạt được khi thực hiện một hoạt động cụ thể tại một tổ chức, doanh nghiệp, hay các cơ sở quản lý giáo dục. KPI giúp lãnh đạo và cán bộ quản lý các cấp có thể theo dõi và đánh giá hiệu quả công việc của các nhóm/cá nhân trong việc thực hiện mục tiêu đề ra. KPI được áp dụng cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi loại hình, lĩnh vực và quy mô khác nhau. Do đó, KPI được xem là yếu tố quyết định đến sự thành công của từng dự án cải tiến nói riêng, của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở quản lý giáo dục nói chung.
Mặc dù các chỉ số thực hiện được chú ý từ nhiều năm nay, nhưng hiện nay vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này. Theo Chương trình quản lý giáo dục đại học (Cave và những người khác, 1988), chỉ số được xác định như "một giá trị đo được bằng số, sử dụng để biểu đạt những thuộc tính khó định lượng". Cũng theo cơ quan này, chỉ số thực hiện được mô tả là "những giá trị bằng số được tạo ra bằng nhiều cách, dùng để đánh giá mức độ thực hiện theo định lượng hay định tính của một hệ thống". Cuenin (1986) phân biệt chỉ số đơn giản, chỉ số thực hiện và chỉ số chung.
Chỉ số đơn giản được diễn đạt bằng những giá trị tuyệt đối và không chứa đựng những chủ kiến thiên lệch. Các chỉ số này thường được đưa ra trong các số liệu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thống kê đơn giản. Chỉ số thực hiện, khác với chỉ số đơn giản, có chứa đựng những ý đồ chủ quan. Thí dụ, các chỉ số thể hiện chuẩn mực, mục tiêu, đánh giá, so sánh đã bao hàm ý nghĩa chủ quan của người đặt ra nó.
Do vậy, chỉ số thực hiện thường được biểu đạt dưới dạng giá trị tương đối hơn là những con số tuyệt đối. Tuy rằng chỉ số đơn giản có tính chất trung gian, nhưng khi nó chứa đựng sự phán xét thì nó trở thành chỉ số thực hiện.