Chương I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CUA LUAT BẢO HIẾM XÃ HOI VIỆT NAM Bảo hiểm xã hội (BHXH) là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phan thu nhập của người lao động (NLD) khi họ bị mat hoặc giảm thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhăm bảo đảm an toàn đời sống cho NLD va gia đình họ, đồng thời góp phan bảo dam an toàn xã hội. Ở Việt Nam, nguồn gốc của BHXH bắt nguồn từ sự ra đời và thực hiện các quỹ tương thân, tương ái, gan liền với cộng đồng làng xã, nhằm cưu mang, giúp đỡ những người gặp phải rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống. Day là cơ sở dé Nhà nước phong kiến đề ra những sắc luật phù hợp, áp dụng trong toan quốc, như lập các quỹ dự phòng thông qua thuế đề tổ chức khám, chữa bệnh cho dân khi có bệnh dịch, đói kém, mắt mùa. Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, những người làm việc trong bộ máy cai trị của Pháp cũng được hưởng một số chế độ BHXH như hưu bồng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Day là những cơ sở đầu tiên cho sự hình thành pháp luật về BHXH sau này. Điều này cho thấy, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống nên cần thiết xuất hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật về BHXH. Ở nước ta, có thể khái quát sự hình thành và phát triển của Luật BHXH thông qua một số giai đoạn như sau: Bình luận khoa học những nội dung cơ bản của Luật Bảo hiểm xã hội 1. Giai đoạn trước năm 1995 1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960 Khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã rất quan tâm đến các chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH đối với NLD nói riêng. Trong thời kỳ đó, mặc dù nền tài chính của quốc gia hết sức eo hẹp, kinh tế nghèo nàn, nhưng ngày 03/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 54-SL ấn định những điều kiện cho công chức về hưu và sau đó là Sắc lệnh số 105-SL ngày 14/6/1946 về việc cấp hưu bổng cho những công chức bị về hưu do Sắc lệnh ngày 03/1 1/1945 và những công chức tự ý xin rút lui, và tăng từ 6% đến 10% tiền hưu - liễm trừ vào lương công chức. Đây chính là những văn bản pháp luật đầu tiên quy định quyền lợi, mức hưởng hưu trí của công chức, khang định nguyên tắc đóng - hưởng của BHXH, đồng thời, cũng quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với quỹ BHXH. Dé hoàn thiện chính sách pháp luật về lao động trong thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ký Sắc lệnh số 29-SL ngày 12/3/1947 quy định những giao dịch về việc làm công giữa chủ lao động, cả người Việt Nam và người nước ngoài, với công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điểm và các nhà làm nghề tự do; Sắc lệnh số 188-SL ngày 29/5/1948 quy định về phụ cấp gia đình, phụ cấp khu vực khí hậu xấu, phụ cấp khu vực tiền tuyến, chế độ thai sản cho công chức nit; Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức Việt Nam và Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 về Quy chế công nhân giúp việc Chính phủ.
Ngày 06/12/1958, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 523-TTg ban hành chế độ trợ cấp đài hạn cho quân nhân tình nguyện đã phục viên từ ngày hòa bình lập lại đến nay bị bệnh kinh niên tái phát 6m, yêu không còn khả năng lao động. Nhìn chung, các mức bảo hiểm trong giai đoạn này khá thấp, chủ yếu mang tính trợ cấp cho NLĐ khi già yếu, mất sức lao động từ nguôn ngân sách nhà nước, chưa có nguôn quỹ riêng cho BHXH nên 10 Phan thứ nhất. Những van dé chung về Luật Bảo hiểm xã hội mức hưởng còn mang tính bình quân, găn với thời gian tham gia kháng chiến của các đối tượng trên, chưa được hoạch định lâu dài. Các khoản chi về hưu trí và mat sức lao động còn “lẫn” với tiền lương nên rất khó khăn cho việc tính toán, mặt khác, chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện, 100% nguồn chi lay từ ngân sách nhà nước.
Giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1994 Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), số lượng cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước (bao gồm tất ca những NLD trong các khu vực hành chính sự nghiệp, t6 chức đoàn thé, các xí nghiệp quốc doanh) đã chiếm số lượng đáng kế trong xã hội. Trước tình hình nay, ngày 27/12/1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước kèm theo Nghị định số 218-CP. Theo quy định của Điều lệ, các chế độ BHXH được áp dụng với các đối tượng là công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang. Trong điều lệ quy định nguồn để chỉ trả các chế độ BHXH trong ngân sách nhà nước trên cơ sở đóng góp của xí nghiệp và do Nhà nước cấp.
Điều lệ BHXH cũng ghi nhận 6 chế độ BHXH là: 6m dau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mat sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân, viên chức. Các chế độ đãi ngộ về BHXH trong Điều lệ tạm thời này chủ yếu dựa vào nguyên tặc phân phối theo lao động nhằm khuyến khích mọi người tăng cường kỷ luật lao động, đây mạnh sản xuất. Từ năm 1975, chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước. Chế độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mat sức lao động va tử tuat, cùng với các chế độ ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đóng góp.
Năm 1985, khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 235-HDBT về cải cách chế độ tiền lương (lần thứ nhất) thì cũng ban hành đồng bộ Nghị định số 236-HĐBT về việc sửa đổi, bổ sung một số chế độ, chính sách về thương binh và xã hội. Trong thời kỳ này, đối tượng 1] Bình luận khoa học những nội dung cơ bản của Luật Bảo hiểm xã hội tham gia BHXH vẫn xác định là công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, SỐ lượng tham gia đã tăng lên nhiều sO với giai đoạn trước. Năm 1985, đã có khoảng 12% lực lượng xã hội thuộc diện được hưởng BHXH'.
Chính sách BHXH trong giai đoạn nay đã mở rộng đối tượng phủ hợp với nền kinh tế tập trung bao cấp, xác định các chế độ BHXH tương đối hợp lý, xác định mức đóng góp của người sử dụng lao động (NSDLĐ) cao hơn để bảo đảm nguồn chi. Tuy nhiên, những tồn tại của nền kinh tế tập trung bao cấp cũng thê hiện rõ như chưa phân biệt được chức năng quản lý nhà nước với quản lý nghiệp vụ BHXH, còn gộp vào chính sách BHXH để thực hiện cả chính sách ưu đãi xã hội, mức hưởng cao gần bằng mức lương khi NLĐ đang làm việc và việc thu bảo hiểm chưa được thực hiện triệt để nên ngân sách nhà nước phải tài trợ ngày càng nhiều cho quỹ BHXH. Năm 1993, Nhà nước tiếp tục cải cách tiền lương (lần thứ hai) theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường như xóa bỏ bao cấp, tiền tệ hóa tiền lương và các đơn vị kinh tế phải hạch toán thu chi triệt dé hơn. Điều đó cũng dẫn đến các quy định về BHXH bước đầu có sự thay đối.
Sự thay đổi này được cu thé hóa trong Nghị định số 43-CP ngày 22/6/1993. Giai đoạn từ năm 1995 đến nay Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ luật Lao động (BLLD), Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995, trong đó Chương XII quy định những nguyên tắc chung nhất về BHXH. Như vậy, từ ngày 01/01/1995 trở đi, pháp luật về BHXH chính thức được ban hành. Trên cơ sở đó, Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và liên Bộ đã ban hành nhiều nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách, chế độ BHXH, trong đó có hai văn bản chủ đạo là Nghị định sô 12-CP ngày 26/01/1995 của http://tapchibaohiemxahoi.vn/newscategory/252/bhxh_vn.htm 12 Phan thứ nhất.
Những van dé chung về Luật Bảo hiểm xã hội Chính phủ về việc ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội và Nghị định số 19-CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thong nhất các tô chức BHXH ở trung ương và địa phương thuộc hệ thong Lao động - Thuong binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam dé giúp Thủ tướng Chính phủ chi đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện thống nhất các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật. Cũng trong thời gian này, thực hiện Nghị định số 45-CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ về việc ban hành điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, các bộ phận làm công tác BHXH Quân đội nhân dân (sau này là BHXH Bộ Quốc phòng) và BHXH Công an nhân dân đã được kiện toàn, nhân sự và tổ chức thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, chịu sự hướng dẫn và quản lý về nghiệp vụ của BHXH Việt Nam. Trong thời kỳ này, Nhà nước quy định về chính sách BHXH nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phan ồn định đời sống cho NLD và gia đình trong các trường hợp ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiép, mat viéc lam, gap rủi ro hoặc các khó khăn khác. Cac loại hình BHXH bat buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với từng loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để bảo đảm cho NLĐ được hưởng các chế độ BHXH thích hợp.
Đặc điểm cơ bản của thời kỳ này là đối tượng tham gia BHXH được mở rộng, tạo sự bình đăng giữa những NLĐ ở các thành phân kinh tế khi tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH; tăng nhanh độ bao phủ về an sinh xã hội (ASXH); hình thành quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước từ đóng góp của NLD, NSDLD và sự hé trợ của Nhà nước; quỹ BHXH được quan lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, được Nhà nước bảo hộ.