phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề bình đẳng giới trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. Chƣơng 2: Thực trạng bình đẳng giới trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở tỉnh Cao Bằng hiện nay. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở tỉnh Cao Bằng hiện nay.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CÔNG TÁC DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 1. Các khái niệm cơ bản về giới Phụ nữ và nam giới khác nhau ở hai phương diện: thể chất (sinh lý học) và xã hội. Sự khác biệt ở phụ nữ và nam giới về mặt sinh lý học gọi là sự khác biệt về giới tính. Giới tính là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ sinh lý học như: hoóc môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục,… Sự khác nhau về chức năng sinh học đã tạo nên vai trò khác nhau của giới như: phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ; còn nam giới mang tinh trùng - là một trong các yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thụ thai.
Về phương diện sinh lý học, chức năng sinh sản của đàn bà hay đàn ông là không thể thay đổi hay dịch chuyển cho nhau được. Bên cạnh sự khác biệt về mặt sinh học, giữa phụ nữ và nam giới còn khác nhau ở nhiều đặc điểm về mặt xã hội như nam giới mạnh mẽ, quyết đoán, hay làm các việc quản lý lãnh đạo; phụ nữ dịu dàng, kiên trì, hay làm các việc thư ký… Những sự khác biệt này về thực chất là do quan niệm xã hội dùng để phân biệt phụ nữ và nam giới, gọi là sự khác biệt giới. Giới là một khái niệm dùng để chỉ các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội để chỉ các vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các nguồn và lợi ích.
Giới được xác định trong mối quan hệ giữa nam và nữ về quyền lực, vị trí xã hội và phân công lao động. Khác với giới tính, những đặc trưng về giới là do dạy và học mà có, là những quan hệ giữa nam và nữ, là do xã hội tạo ra, có 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự khác nhau trong từng điều kiện, hoàn cảnh văn hóa, xã hội khác nhau và luôn biến đổi theo thời gian… Như vậy, giới tính mang những đặc trưng cơ bản: bẩm sinh, đồng nhất, không biến đổi và thay đổi. Điều đó nghĩa là, ở bất kỳ đâu trên thế giới, ở trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào thì phụ nữ và nam giới đều có những đặc trưng giới tính giống nhau hay cơ bản là giống nhau. Chẳng hạn, phụ nữ ở châu Á, châu Âu, châu Phi hay châu Mỹ đều giống nhau ở chức năng mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ; còn nam giới có tinh trùng và tham gia vào quá trình thụ thai.
Ngược lại, những đặc trưng về giới lại do dạy và học mà có, chúng đa dạng trong các quan hệ xã hội khác nhau, luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội và có thể thay đổi được. Từ đó nhận thấy, mục tiêu mà nhân loại đang hướng tới không phải là sự bình đẳng về giới tính giữa nam và nữ mà là sự bình đẳng về giới. Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam và nữ; là trạng thái (hay tình hình) xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau, có các cơ hội như nhau để phát hiện đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã hội và được hưởng lợi từ kết quả của sự phát triển đó. Mục tiêu cụ thể của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam, nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực.
Tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ, đồng thời, thiết lập, củng cố mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Nếu như các tiêu chí và mục tiêu này không được xác lập có nghĩa là trong xã hội đang tồn tại bất bình đẳng giới. Bất bình đẳng giới là sự “phân biệt đối xử về giới” nghĩa là sự phân biệt, loại trừ, hạn chế, không công nhận hay không coi trọng về vai trò, địa vị, quyền lực, uy tín. giữa nam và nữ trong các nhóm, tập thể và xã hội.
Hoặc bất bình đẳng giới là dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự phân biệt đối xử giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội đã được thể chế hóa thành khuôn mẫu bất bình đẳng giới. Để giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới thì công bằng giới là một trong những nội dung cần được quan tâm. Công bằng giới chính là quá trình đối xử công bằng đối với nam giới và phụ nữ về mọi mặt.
Công bằng được coi là phương tiện, biện pháp thực hiện bình đẳng giới; còn bình đẳng giới là mục đích cuối cùng. Từ công bằng sẽ dẫn tới bình đẳng và kết quả là có thể thu hẹp, tiến tới xóa bỏ khoảng cách giới. Khoảng cách giới là sự khác biệt giữa trẻ em trai và trẻ em gái; giữa nam và nữ trong một trường hợp, một lĩnh vực cụ thể, định lượng liên quan tới các điều kiện, sự tiếp cận và hưởng thụ các nguồn lực. Ví dụ: Sự khác biệt giữa công việc và thời gian làm việc của trẻ em trai và trẻ em gái; Tình hình tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản giữa phụ nữ và nam giới.
Những khoảng cách xuất phát từ những định kiến giới. Định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng hay xã hội “gán” cho nó là thuộc tính của nam giới hay nữ giới. Các quan niệm này là sai lệch và làm hạn chế khả năng mà một cá nhân có thể làm được. Ví dụ: Coi việc nội trợ là của người phụ nữ, còn đàn ông không làm việc nội trợ.
Cũng chính từ những định kiến giới tồn tại lâu dài trong lịch sử xã hội loài người là nguyên nhân chính gây ra quan niệm “trọng nam khinh nữ”, phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào [49]. Sự phân biệt đối xử giữa nam giới và nữ giới diễn ra trong gia đình, ở nơi làm việc hoặc ngoài xã hội. Ví dụ: Quan điểm phổ biến trong xã hội cho rằng: phụ nữ thường dịu dàng, kiên nhẫn, hay làm các công việc thư ký, đánh máy, thừa hành; còn nam giới mạnh mẽ, quyết đoán, hay làm các việc quản lý, lãnh đạo.
Vì thế, phụ nữ không được đề bạt vào các vị trí lãnh đạo bất kể có trình độ, năng lực. Để khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới cần phải có một quá trình chuyển biến từ nhận thức đến hành động. Xã hội càng phát triển thì sự nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn về nhu cầu, lợi ích, vai trò và trách nhiệm khác nhau của nam giới và phụ nữ. Sự khác biệt này sẽ dẫn tới sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ trong các lĩnh vực: tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực; mức độ tham gia và hưởng thụ các nguồn lực gọi là nhạy cảm giới.
Có như vậy mới có thể có được những hành động có trách giới. Bởi vì, trách nhiệm giới là việc nhận thức các vấn đề giới, khác biệt giới và nguyên nhân của những khác biệt, từ đó đưa ra các biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc phục bất bình đẳng trên cơ sở lồng ghép giới. Lồng ghép giới là một phương pháp tiếp cận hay một biện pháp chiến lược nhằm đạt được bình đẳng giới trên diện rộng trong xã hội. Lồng ghép giới đòi hỏi toàn bộ hoạt động của xã hội chấp nhận mục tiêu bình đẳng giới, coi đó là mục tiêu quan trọng, đồng thời tích cực giải quyết các vấn đề giới liên quan đến bản thân các chủ thể nhằm đạt được bình đẳng giới trong toàn xã hội.
Quan điểm mác-xít về bình đẳng giới 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về bình đẳng giới Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Sự phát triển của con người, sự khác biệt giữa nam và nữ không hoàn toàn là do yếu tố tự nhiên, sinh vật, hoặc do yếu tố tôn giáo chi phối mà là do sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội. Như vậy, xét đến cùng, sự bất bình đẳng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nam nữ là do yếu tố kinh tế chi phối.Ăngghen khẳng định: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng bản thân sản xuất đó lại có hai loại: một mặt, là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác, là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống.