Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Dẫn nhập Theo Fontain, L. Thuật ngữ biểu thức quy chiếu (referring expression) được L. Hjelmslev [86] lần đầu tiên đưa ra trong cuốn Omkring sprogteoriens grundlæggelse (Cơ sở lí thuyết ngôn ngữ), xuất bản năm 1943 bằng tiếng Đan Mạch và sau đó được Nhà xuất bản Baltimore thuộc Đại học Indiana (Hoa Kỳ) cho dịch và xuất bản bằng tiếng Anh năm 1953, với tiêu đề Prolegomena to a theory of language. Biểu thức quy chiếu là đơn vị ngôn ngữ mà bên phát thông tin sử dụng để trỏ tới một đối tượng nào đó trong thế giới khả hữu.
Biểu thức quy chiếu là đối tượng nghiên cứu được nhiều chuyên ngành khoa học quan tâm. Tổng quan tình hình nghiên cứu biểu thức quy chiếu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu theo hướng lý thuyết Vấn đề biểu thức quy chiếu đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm, trong đó có những công trình tiêu biểu của các tác giả sau: De Saussure [53] với cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương; Otto Jespersen [91] có The philosophy of grammar; Austin [73] có cuốn How to do things with words; Yule [69] với cuốn Pragmatics (Dụng học, được dịch sang tiếng Việt và xuất bản năm 2003); Levinson [93] với Pragmatics; Ullmann, S.
[100] The Principles of Semantics; James R. Hurford, Bredan Heasley và Michael B Schmith [88] với công trình “Semantics - A coursebook”; Geeraerts, D. [82] có Theories of Lexical Semantics; Lee, D. [16] có Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận; Lyons [43] có Ngữ nghĩa học dẫn luận.
Những đóng 10 góp quan trọng của các công trình này liên quan tới biểu thức quy chiếu được trình bày ở phần dưới đây. De Saussure [53] là nhà nghiên cứu tiêu biểu trong ngôn ngữ học nói chung, có nhiều đóng góp làm cơ sở cho dụng học phát triển sau này. Với cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, ông đã miêu tả phương thức người ta quy chiếu sự vật, với hình ảnh cái cây được thể hiện trong các ngôn ngữ khác nhau. Dù được thể hiện ra bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng cuối cùng thì đối tượng mà các biểu thức này trỏ về cũng là những cái cây.
Ông chỉ ra việc cái cây, dù được thể hiện ra bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau, nhưng người đọc, người nghe vẫn luôn có thể hình dung ra được một “cái cây”, có gốc, có thân, và có ngọn, thuộc loài thực vật, tồn tại trên trái đất. Việc quy chiếu “cái cây” này bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau không cản trở độc giả trỏ về đúng đối tượng mà bên phát ngôn muốn chỉ ra. Theo ông, việc dùng các biểu thức ngôn ngữ để trỏ cho độc giả biết mình đang muốn nói đến một cái cây là một công đoạn phức tạp, đòi hỏi người nói phải dùng các phương tiện ngôn ngữ hiện có để giúp cho người nghe hiểu được mình đang muốn đề cập tới đối tượng nào. Người ta cần tránh đơn giản hóa vấn đề, bởi vì “nó đưa người ta đến chỗ giả định rằng mối quan hệ gắn bó một tên gọi với một sự vật là một thao tác hết sức đơn giản, mà điều đó hoàn toàn không đúng” [53, 138].
Otto Jespersen [91] là người có đóng góp rất lớn cho nghiên cứu về ngôn ngữ, ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về dụng học và các biểu thức quy chiếu. Trong công trình The philosophy of grammar xuất bản lần đầu năm 1924, ông đã trình bày nhiều vấn đề cơ bản của quy chiếu. Ông cho rằng, quy chiếu về bản chất là quy trình một người tìm về đúng đối tượng mình cần tìm: tương tự như việc đi lên tầng 5, nếu người đó đang ở tầng 4 thì chỉ cần đi lên thêm một tầng nữa là tới tầng 5, nếu đang ở tầng 1 thì phải đi lên 5 tầng. Quy 11 trình quy chiếu cũng vậy, nếu đối tượng cần quy chiếu là dễ dàng được chỉ ra và được nhận biết thì quy trình này đơn giản, còn nếu đối tượng khó nhận diện được thì người nói phải sử dụng nhiều phương tiện khác nhau mới chỉ ra cho người nghe biết được đấy là đối tượng nào.
Các phương tiện mà người nói gắn thêm vào thành phần chính, để người nghe có thể xác định được đúng đối tượng mà người nói muốn đề cập tới, được Jespersen [91] gọi là restrictive/qualifying adjunt (phần phụ trợ sơ loại, tương đương định ngữ). Các từ phụ trợ sơ loại này có chức năng hạn chế số lượng các vật thể cần thiết để có thể xác định được đúng đối tượng mà người nói muốn trỏ tới, ví dụ “đỏ” trong “hoa hồng đỏ” sẽ xác định rõ chỉ có những hoa hồng màu đỏ mới được xem xét, các loại hoa hồng trắng/xanh… sẽ không được tính đến. Theo hướng nghiên cứu này, nhiều nhà ngôn ngữ học đã kế thừa và vận dụng phương thức mà Jespersen [91] đã đề ra. Jespersen cũng cho rằng, các phần phụ trợ sơ loại có tính chất tương đối, miễn là chúng có thể chỉ dẫn cho người nghe xác định đúng đối tượng mà người phát ngôn muốn người nhận phát ngôn nhận biết nó.
Ví dụ, nếu một cảnh sát nói với đồng nghiệp, anh hãy theo dõi tên đang hút xì gà uống rượu ngoại ở góc cuối phòng, thì dù đối tượng đó có thể đang không hút xì gà mà chỉ là hút thuốc lá, không uống rượu ngoại mà chỉ đơn giản là uống rượu nội địa, thì người nghe (trong trường hợp này là người đồng nghiệp của viên cảnh sát) cũng vẫn có thể xác định được đúng đối tượng cần theo dõi. Trọng tâm của việc nghe và hiểu các chỉ dẫn ở đây là làm sao xác định được đúng đối tượng cần theo dõi, không phải là việc đối tượng đó có thật sự đang hút xì gà, hay đang uống rượu ngoại hay không. Việc người nghe 12 có thể xác định đúng đối tượng mà người nói trỏ tới thường phụ thuộc vào các phụ trợ sơ loại này, các thành phần này càng cụ thể rõ ràng thì người nghe càng có cơ hội xác định đúng đối tượng được quy chiếu. Chúng tôi cho rằng, cách phân loại của Jespersen rất dễ hiểu và dễ áp dụng cho phân loại và nghiên cứu biểu thức quy chiếu, các thành phần phụ trong biểu thức chỉ là các phương tiện giúp cho người đọc, người nghe có thể nhận diện được những đối tượng đấy.
Nghiên cứu về dụng học có sự đóng góp lớn của Austin [73] và Searle [97]. Năm 1962, sau khi Austin qua đời, các học trò của ông đã tổ chức và biên soạn những bài giảng của ông thành một tác phẩm có tựa đề “How to do things with words” (Cách thực hiện hành động bằng lời nói). Cuốn sách trình bày nhiều vấn đề trong giao tiếp, bao gồm hành động ngôn từ, hành động tại lời, và một số vấn đề thuộc về giao tiếp. Austin [73] đã mô tả nhiều khía cạnh liên quan đến lĩnh vực dụng học và hoạt động ngôn ngữ của con người, bao gồm các vấn đề về tiền giả định.
Theo ông, để có thể thực hiện được giao tiếp thành công, các bên tham gia cần có những giả định để giao tiếp có thể tiến hành, cần được giải thích nếu một bên hiểu sai đối tượng bên kia đang bàn tới. Searle [97] đã tiếp tục và phát triển lý thuyết của Austin. Searle [97] đề xuất rằng để người nghe hoặc người đọc có thể suy luận đúng đối tượng mà người nói hoặc người viết đang đề cập tới, cần phải có bảy yếu tố quan trọng: 1) Đảm bảo điều kiện đầu vào và đầu ra; 2) Phát ngôn của người nói diễn ra như một phần của chuỗi phát ngôn hoặc chuỗi câu; 3) Phát ngôn được xem xét như một hành vi tại lời; 4) Phải có đối tượng được người nói hoặc người viết muốn người nghe hoặc người đọc nhận diện được; 5) Người nói hoặc người viết dự kiến rằng người nghe hoặc người đọc sẽ nhận diện được đối tượng; 6) Người nói hoặc người viết dự tính rằng người nghe hoặc người đọc sẽ nhận diện được đối tượng thông qua việc hiểu các quy tắc của phát ngôn và 13 dựa trên ngữ cảnh của nó; 7) Các quy tắc ngữ nghĩa phải được thỏa mãn đầy đủ để quy chiếu có thể thành công. Ông trình bày các vấn đề về quy chiếu và thuộc ngữ, quy chiếu và tên riêng, ngữ cảnh và quy chiếu, các hình thái quy chiếu hồi chỉ, khứ chỉ.
Levinson [93] trong công trình Pragmatics (Ngữ dụng học) trình bày quy chiếu, chỉ xuất (deixis) bao gồm các chỉ xuất chỉ người/ngôi (person deixis), chỉ xuất không gian, chỉ xuất thời gian, chỉ xuất xã hội. Levinson rất chú trọng tới biểu thức quy chiếu và cho rằng, một trong những xuất phát điểm của dụng học là việc hai bên tham gia đối thoại có thể chỉ cho nhau biết họ đang đề cập tới đối tượng nào. Chỉ ra được đúng đối tượng mà bên phát tín hiệu đưa ra là một trong những yêu cầu rất cơ bản của dụng học. Ông đưa ra ví dụ: (1) Trời tối, một người tên là Harry nói “nghe này, tôi đồng ý với ông mà không đồng ý với ông, và không phải là về cái này mà là về cái này”.
Trong điều kiện trời tối và không có bất cứ nguồn sáng nào, thì có thể nói phát ngôn trên không chỉ cho người nghe biết người nói đang đồng ý với “ông” nào (giả sử là có nhiều ông trong phòng), về “cái này” hay “cái này” thật ra là cái gì/cái nào. Để chỉ được cho người nghe biết cụ thể các đối tượng đó, cần có ánh sáng. Tương tự, những trường hợp quy chiếu khác đều cần những điều kiện nhất định. Chỉ xuất diễn ngôn và chỉ xuất xã hội được Levinson [93], Lyons [43] chú ý nghiên cứu.
Biểu thức quy chiếu không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học mà còn là đối tượng nghiên cứu của ngữ nghĩa học. [100] có 14 công trình The Principles of Semantics, trong đó ông đã nghiên cứu nhiều về các quy tắc của ngữ nghĩa. Ông đề xuất mô hình tam giác ngữ nghĩa, được nhiều nhà ngôn ngữ học sau này sử dụng. Hurford, Bredan Heasley và Michael B Schmith [88] với công trình “Semantics - A coursebook” đã nghiên cứu về các biểu thức quy chiếu, từ định nghĩa, phân loại tới cách dùng.
Nhóm tác giả coi hai câu chỉ có thể giống nhau nếu giống nhau tuyệt đối cả thành phần và vị trí các bộ phận cấu thành, nếu có bất kì một sự khác biệt nào thì đấy là hai câu khác nhau. Các biểu thức quy chiếu trong câu/phát ngôn chỉ ra người/sự vật ở bên ngoài thế giới, xác định đối tượng đó.