Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Biểu thức quy chiếu trong các văn bản khoa học xã hội" được nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Long thực hiện thuộc ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9 22 90 20) tại Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Hữu Hoàng (năm bảo vệ: 2024).
Trong xu hướng phát triển của ngôn ngữ học hiện đại, các nghiên cứu ngày càng chú trọng chức năng phục vụ giao tiếp, trao đổi thông tin và tương tác thực tế giữa con người. Xuất phát từ nền tảng dụng học, quy chiếu và biểu thức quy chiếu đóng vai trò then chốt giúp xác định sự tình và giá trị chân lý của phát ngôn. Trong văn bản khoa học xã hội, tác giả và độc giả thiết lập một cuộc đối thoại gián tiếp mang tính đặc thù. Đối tượng độc giả thường có sự biến đổi liên tục về kinh nghiệm, độ tuổi và mức độ tiếp nhận, do đó tác giả cần sử dụng các biểu thức quy chiếu thích hợp nhằm duy trì phong cách hàn lâm, bảo đảm tính mạch lạc và tránh sự lặp lại đơn điệu. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù biểu thức quy chiếu đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới ở các góc độ cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng và cấu trúc thông tin, song tại Việt Nam vẫn còn thiếu vắng các công trình đi sâu khảo sát chuyên biệt mảng biểu thức quy chiếu trong loại hình văn bản khoa học xã hội.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu: Luận án hướng tới hai mục đích chính:
- Nghiên cứu các biểu thức quy chiếu xét từ các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa nhằm tìm hiểu phương thức quy chiếu.
- Tìm hiểu các giá trị của biểu thức quy chiếu trong văn bản khoa học xã hội, đồng thời ứng dụng kết quả vào thực tế biên tập bài viết tại Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án thực hiện ba nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan những vấn đề lý thuyết có liên quan đến biểu thức quy chiếu.
- Phân loại và miêu tả các biểu thức quy chiếu xét từ phương diện cấu tạo.
- Tìm hiểu các đặc điểm ngữ nghĩa học và dụng học của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Các biểu thức quy chiếu chỉ người trong văn bản khoa học xã hội. Việc giới hạn vào biểu thức quy chiếu chỉ người nhằm khu biệt phạm vi khảo sát phù hợp với điều kiện nghiên cứu thực tế.
- Phạm vi không gian và nguồn ngữ liệu: Các bài viết nghiên cứu đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Do đặc thù là tạp chí đa ngành, liên ngành có hàm lượng khoa học cao và độ bao quát lớn, tác giả chọn tất cả các bài viết đáp ứng tiêu chí bài báo khoa học. Luận án đính kèm phụ lục thống kê 57 bài viết chứa biểu thức quy chiếu được khảo sát và trích xuất làm ví dụ minh họa.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2022, trải dài qua 72 số xuất bản của Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia rành mạch thành hai bình diện: nghiên cứu trên thế giới và nghiên cứu tại Việt Nam, bao gồm cả hướng nghiên cứu lý thuyết lẫn nghiên cứu ứng dụng.
Về tình hình nghiên cứu lý thuyết trên thế giới, thuật ngữ biểu thức quy chiếu (referring expression) được L. Hjelmslev đưa ra lần đầu tiên vào năm 1943 trong tác phẩm tiếng Đan Mạch Omkring sprogteoriens grundlæggelse, sau đó được dịch sang tiếng Anh với tiêu đề Prolegomena to a theory of language (1953). Các nghiên cứu nền tảng tiếp theo gắn liền với F. de Saussure (1916) trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương với mô tả về cách thức quy chiếu sự vật và mối quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified); Otto Jespersen (1924) trong The philosophy of grammar với quan niệm về quy trình tìm về đối tượng và khái niệm định ngữ hạn chế/phụ trợ sơ loại (restrictive/qualifying adjunct); J.L. Austin (1962) với How to do things with words đặt nền móng cho lý thuyết hành động ngôn từ; John R. Searle (1969) hoàn thiện hệ thống 7 điều kiện quy chiếu thành công; S.C. Levinson (1983) trong Pragmatics phân tích sâu các loại chỉ xuất (deixis) gồm chỉ xuất ngôi/người, thời gian, không gian và xã hội; Stephen Ullmann với mô hình tam giác ngữ nghĩa; Dirk Geeraerts (2010) với Theories of Lexical Semantics; Olga Moskalskaja nghiên cứu ngữ pháp văn bản; David Lee nghiên cứu sự mờ quy chiếu và quan hệ không gian (temporal space); John Lyons (1977) phân định tên riêng, danh ngữ miêu tả xác định (definite descriptions) và phạm trù phân loại (sortal categories), hiện tượng mờ quy chiếu (reference opacity); M.A.K. Halliday (1985, 1994) nghiên cứu quy chiếu chức năng, ngoại chỉ (exophoric), hồi chỉ (anaphoric), khứ chỉ (cataphoric) và chức năng liên nhân.
Về hướng nghiên cứu ứng dụng trên thế giới, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu: Miriam Eckert khảo sát chỉ xuất diễn ngôn và hồi chỉ trong tiếng Đức; Naomi Truan khảo sát biểu thức ngôi thứ ba trong tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Pháp; Etsuko Yoshida so sánh biểu thức quy chiếu hội thoại tiếng Anh và tiếng Nhật; J. Posio khảo sát đại từ nhân xưng trên ngữ liệu phỏng vấn Habla Culta de Salamanca (74.000 từ); Hye-Kyung Lee so sánh biểu thức quy chiếu trên bản tin chính trị tiếng Anh và tiếng Hàn; Hazim al Dilaimy nghiên cứu biểu thức quy chiếu xác định và không xác định trong tiếng Anh và tiếng Ả Rập; Catherine Davies nghiên cứu vai trò của ngữ cảnh; Keith Allan phân tích quy chiếu như một hành động ngữ dụng; Anna Bonifazi khảo sát tên riêng trong truyện ngắn tội phạm (chỉ ra tên riêng chiếm 16,26% tổng các quy chiếu hồi chỉ, đứng sau đại từ ngôi thứ ba số ít với 31,25%); M.B. Tshikwatamba vận dụng tam giác ngữ nghĩa để giải thích hệ quy chiếu.
Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu lý thuyết được triển khai qua các công trình của Đỗ Hữu Châu (phân định 3 phương thức chiếu vật cơ bản: tên riêng, miêu tả, chỉ xuất; xác lập 3 nhóm nhân tố giao tiếp gồm ngữ cảnh, ngôn ngữ, diễn ngôn; phân tích hiện thực ngoài diễn ngôn); Nguyễn Đức Dân (phân tích chỉ xuất trong ngữ dụng học); Nguyễn Thiện Giáp (nghiên cứu bản chất hành động quy chiếu của con người và danh ngữ phức tạp); Diệp Quang Ban (định nghĩa vật chiếu, đồng quy chiếu trong từ điển và ngữ pháp); Nguyễn Văn Khang (ngôn ngữ học xã hội và sự lựa chọn mã giao tiếp); Nguyễn Văn Hiệp (cú pháp và tình thái); Đỗ Việt Hùng (ngữ dụng học thực hành); cùng các từ điển chuyên ngành của Nguyễn Như Ý, Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ (1996 - giải thích biểu niệm, biểu vật); Cao Xuân Hạo và Hoàng Dũng (2004); Hoàng Phê (2003).
Về hướng nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam, các công trình được điểm luận bao gồm: Phạm Văn Tình nghiên cứu tỉnh lược đồng sở chỉ; Bùi Minh Toán nghiên cứu biểu thức miêu tả chiếu vật qua câu đố Việt Nam; Ngô Hữu Hoàng khảo sát việc sử dụng đại từ nhân xưng tôi, chúng tôi, chúng ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập; Trần Thị Thủy khảo sát phép quy chiếu trong sách giáo khoa tiếng Anh THPT; Nguyễn Thị Ngọc Hân phân tích liên kết hồi chỉ trong bài viết của sinh viên Hàn Quốc; Lê Thời Tân phân tích trường hợp con "tra" trong truyện Cố hương của Lỗ Tấn; Triệu Thu Hằng nghiên cứu dịch thuật biểu thức quy chiếu trong tiểu thuyết Harry Potter; Nguyễn Thị Hoài Phương khảo sát biểu thức "người phụ nữ" trong 14 truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; Đặng Thị Bảo Dung phân tích 15 bài phát biểu của 5 đời tổng thống Mỹ; Ngô Thị Kim Khánh khảo sát 74 truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan; Nguyễn Quang nghiên cứu hệ quy chiếu văn hóa 3 tầng; Nguyễn Thị Bích Hà nghiên cứu chiếu vật "trăng" trong thơ thiếu nhi của Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh; Phạm Hùng Việt nghiên cứu cách viết tên riêng; và luận án của Nguyễn Tú Quyên về biểu thức sở chỉ trong văn học Việt Nam thế kỷ 20.
| Tác giả công trình |
Ngữ liệu khảo sát thực tế |
Số liệu định lượng trích xuất từ văn bản |
| Anna Bonifazi |
Truyện ngắn về tội phạm |
Tên riêng chiếm 16,26% tổng quy chiếu hồi chỉ; đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít chiếm 31,25%. |
| Trần Thị Thủy |
SGK tiếng Anh THPT Việt Nam (2015) và New Interchange |
Biểu thức hồi chỉ chiếm 95,32%; tỉnh lược chiếm 3,33%; ngoại chiếu chiếm 0,98%; khứ chiếu chiếm 0,37%. |
| Đặng Thị Bảo Dung |
15 bài phát biểu của 5 đời tổng thống Mỹ |
Quy chiếu chỉ ngôi chiếm 43,3%; quy chiếu chỉ định chiếm 52,4%; quy chiếu so sánh chiếm 4,3%. |
| Ngô Thị Kim Khánh |
74 truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan |
52/74 tác phẩm có sử dụng tên riêng để chiếu vật; tổng số 142 tên riêng với 1.258 lượt dùng. |
| Nguyễn Thị Bích Hà |
Tập thơ của Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh |
Khảo sát 68 lần từ "trăng", 25 lần từ "ông": cấu tạo từ đơn chiếm 72,2%, từ ghép chiếm 27,8%. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình tại Việt Nam tập trung khảo sát biểu thức quy chiếu trong tác phẩm văn học, diễn văn chính trị, ngôn ngữ báo chí thường nhật hoặc sách giáo khoa ngoại ngữ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các biểu thức quy chiếu chỉ người trong các văn bản nghiên cứu khoa học xã hội. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp bức tranh hoàn chỉnh về cách thức vận hành của biểu thức quy chiếu trong diễn ngôn khoa học xã hội tiếng Việt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các lý thuyết, khái niệm và khung phân tích cơ bản sau:
- Khái niệm quy chiếu và biểu thức quy chiếu: Quy chiếu (reference) là việc người nói/người viết chỉ cho người nghe/người đọc biết mình đang đề cập tới đối tượng nào. Luận án tiếp thu định nghĩa của Asher (quy chiếu là thực thể trong thế giới hiện thực được chỉ ra bằng sự diễn đạt ngôn từ), Gottlob Frege (biểu thức quy chiếu trỏ tới một vật thể duy nhất, là sự mô tả xác định), Hurford - Heasley - Smith (biểu thức ngôn ngữ dùng để ám chỉ ai đó/điều gì đó với một đối tượng cụ thể xuất hiện trong tâm trí), Nguyễn Thiện Giáp (quy chiếu chỉ mối quan hệ giữa yếu tố ngôn ngữ với sự vật, biến cố, hành động mà chúng thay thế; biểu thức quy chiếu là hình thức ngôn ngữ cho phép nhận diện đối tượng). Phân biệt giữa biểu thức ngôn ngữ thuần túy và biểu thức quy chiếu: biểu thức quy chiếu bắt buộc phải gắn với chức năng trỏ tới đối tượng cụ thể trong thế giới khả hữu.
- Khung phân tích giao tiếp và dụng học: Vận dụng lý thuyết hành động ngôn từ (speech acts) của Austin và Searle. Trong đó, luận án nhấn mạnh 7 điều kiện quy chiếu thành công của Searle (điều kiện đầu vào - đầu ra; phát ngôn nằm trong chuỗi phát ngôn; phát ngôn là hành vi tại lời; có đối tượng muốn người nhận diện; dự kiến người nghe nhận diện được; dự tính người nghe dựa vào quy tắc phát ngôn và ngữ cảnh; thỏa mãn quy tắc ngữ nghĩa). Tiếp thu quan điểm của Đỗ Hữu Châu về 3 nhóm nhân tố giao tiếp (ngữ cảnh, ngôn ngữ, diễn ngôn) và hiện thực ngoài diễn ngôn (hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường/hiện trường, hiện thực đề tài, hệ quy chiếu và thế giới khả hữu, ngữ huống). Vận dụng khung phân tích SPEAKING của Dell Hymes.
- Khung ngữ pháp chức năng và ngữ nghĩa học: Tiếp thu mô hình tam giác ngữ nghĩa của John Lyons (đỉnh A: tín hiệu/từ ngữ, đỉnh B: khái niệm, đỉnh C: vật quy chiếu), mô hình chức năng ngôn ngữ của Roman Jakobson (tập trung vào chức năng quy chiếu - referential và chức năng cảm xúc/liên nhân). Tiếp thu lý thuyết của M.A.K. Halliday về quy chiếu ngoại chỉ, liên kết hồi chỉ, khứ chỉ và chức năng liên nhân của biểu thức quy chiếu nhân xưng. Kế thừa quan điểm của Otto Jespersen về phụ trợ sơ loại (restrictive/qualifying adjunct).
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án kết hợp các phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp thu thập ngữ liệu: Xây dựng bảng tổng hợp các biểu thức quy chiếu tiềm năng, tìm kiếm, trích xuất các cụm từ, mệnh đề, câu chứa biểu thức quy chiếu; đọc, sàng lọc và phân loại riêng các biểu thức quy chiếu chỉ người.
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Miêu tả cấu trúc ngữ pháp, thành phần cấu tạo (trung tâm, phụ trước, phụ sau/định tố) của các biểu thức quy chiếu; làm rõ các đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ dụng trong văn cảnh bài báo khoa học.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Nhận diện biểu thức quy chiếu trong ngữ cảnh văn bản, phân tích chức năng liên kết diễn ngôn, chuỗi hồi chỉ, khứ chỉ và sự tương tác giữa tác giả và độc giả.
- Thủ pháp thống kê: Thu thập, thống kê tần số, phân loại các biểu thức quy chiếu thu thập được theo từng tiểu mục cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa (xác định / không xác định), làm cơ sở định lượng cho các nhận định miêu tả.
- Nguồn tư liệu: Toàn bộ các bài báo khoa học được công bố trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2022 (tổng cộng 72 số tạp chí), trong đó trích xuất 57 bài viết làm ngữ liệu khảo sát và dẫn chứng minh họa trực tiếp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án qua 5 nội dung cốt lõi:
- Dẫn nhập và lịch sử khái niệm: Lần theo nguồn gốc thuật ngữ biểu thức quy chiếu từ L. Hjelmslev (1943, 1953) đến các phát triển trong ngữ nghĩa học và dụng học hiện đại.
- Tổng quan tình hình nghiên cứu: Khái quát toàn diện các khuynh hướng nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng ở nước ngoài và trong nước, chỉ rõ những kết quả đã đạt được và định vị khoảng trống nghiên cứu về văn bản khoa học xã hội.
- Vấn đề giao tiếp: Phân tích bản chất giao tiếp như quá trình tương tác, mã hóa và giải mã thông điệp hai chiều giữa tác giả và độc giả; phân tích chức năng quy chiếu kết hợp chức năng liên nhân theo mô hình Roman Jakobson, Dell Hymes và Đỗ Hữu Châu; xem xét quan hệ vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và áp lực văn phong học thuật chuẩn mực trong bài báo khoa học.
- Biểu thức quy chiếu: Phân tích bản chất nghĩa quy chiếu thông qua mô hình tam giác ngữ nghĩa của John Lyons và F. de Saussure; làm rõ quan điểm ngữ pháp chức năng của M.A.K. Halliday về chức năng chỉ xuất, cơ chế hồi chỉ tạo tính mạch lạc cho diễn ngôn; làm rõ 7 điều kiện quy chiếu thành công theo John R. Searle.
- Văn bản và văn bản khoa học xã hội: Xác lập các đặc trưng ngôn ngữ và cấu trúc của thể loại văn bản nghiên cứu khoa học xã hội (tính khách quan, tính chính xác, cấu trúc logic chặt chẽ), từ đó luận giải tính tất yếu của việc lựa chọn biểu thức quy chiếu chỉ người phù hợp.
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội
Chương 2 tập trung khảo sát, phân loại và miêu tả cấu trúc hình thức của các biểu thức quy chiếu chỉ người thu thập từ ngữ liệu Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. Nội dung chương được chia thành các nhóm cấu tạo chính:
- Biểu thức tên riêng: Khảo sát các danh từ riêng chỉ cá nhân nhà khoa học, tác giả công trình hoặc nhân vật lịch sử, xã hội được trích dẫn hoặc phân tích.
- Biểu thức miêu tả: Khảo sát các cấu trúc danh ngữ có danh từ trung tâm kết hợp với các định ngữ miêu tả nghề nghiệp, chức danh, học vị, thuộc tính xã hội hoặc hành vi nghiên cứu (ví dụ: các nhà nghiên cứu, tác giả bài viết, người tham gia khảo sát).
- Biểu thức chỉ xuất: Phân tích các đại từ nhân xưng, đại từ chỉ thị được dùng để trỏ người phát ngôn hoặc đối tượng giao tiếp trong văn bản (ví dụ: tôi, chúng tôi, chúng ta, ông, bà, họ).
- Các dạng kết hợp: Miêu tả chi tiết 4 mô hình kết hợp phức hợp nhằm xác định đối tượng:
- Biểu thức tên riêng kết hợp với miêu tả (kết hợp danh xưng, chức danh với họ tên cụ thể).
- Biểu thức tên riêng kết hợp với chỉ xuất.
- Biểu thức miêu tả kết hợp với chỉ xuất (ví dụ: nhóm tác giả này, nhà nghiên cứu ấy).
- Biểu thức tên riêng kết hợp với miêu tả và chỉ xuất.
- Cơ sở thành lập biểu thức quy chiếu: Phân tích quy tắc ngữ pháp tổ chức danh ngữ tiếng Việt, vai trò của thành phần trung tâm (Trt), phụ trước (Pht) và phụ sau/định tố (Phs, ĐT) theo quan niệm phụ trợ sơ loại của Jespersen nhằm hạn chế ngoại diên và xác định chính xác sở chỉ của đối tượng trong bài báo khoa học.
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa ngữ dụng của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội
Chương 3 đi sâu làm rõ bình diện chức năng ngữ nghĩa và giá trị hành chức ngữ dụng của biểu thức quy chiếu:
- Đặc điểm ngữ nghĩa: Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu vật của biểu thức quy chiếu chỉ người; làm rõ sự tương tác ngữ nghĩa giữa danh từ trung tâm và các thành tố định ngữ hạn chế trong việc xác lập điều kiện chân lý của câu văn khoa học.
- Tỷ lệ biểu thức quy chiếu xác định và không xác định: Thống kê và so sánh mức độ phân bổ giữa biểu thức quy chiếu xác định (BTQCXĐ - trỏ tới đối tượng cụ thể, đơn nhất, người đọc có thể nhận biết rõ ràng) và biểu thức quy chiếu không xác định (BTQCKXĐ - trỏ tới đối tượng mang tính loại thể, tập hợp không hạn định, ví dụ: "một số tác giả", "các nhà nghiên cứu") trong ngữ liệu bài báo khoa học.
- Đặc điểm ngữ dụng của biểu thức quy chiếu: Phân tích các chức năng dụng học trong diễn ngôn khoa học xã hội:
- Chức năng duy trì tính liên kết văn bản thông qua chuỗi hồi chỉ (anaphora) và khứ chỉ (cataphora).
- Phương thức thực hiện chức năng liên nhân (interpersonal function): thể hiện sự khiêm tốn, thái độ khách quan hoặc xác lập khoảng cách học thuật giữa tác giả với độc giả và với các đồng nghiệp được trích dẫn (thông qua lựa chọn đại từ nhân xưng bao gộp chúng ta hoặc không bao gộp chúng tôi, tác giả).
- Nhận diện đối tượng biểu thức quy chiếu trỏ tới: Khảo sát cơ chế giải mã của độc giả dựa trên ngữ cảnh diễn ngôn và tiền giả định chung của cộng đồng học thuật để nhận diện chính xác các nhân vật được quy chiếu trong các bài viết khoa học xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của luận án được chính tác giả tổng kết bao gồm:
- Về mặt lý luận:
- Góp phần làm rõ hiện tượng quy chiếu trong một loại hình văn bản đặc thù là văn bản khoa học xã hội tiếng Việt.
- Chỉ ra các phương thức quy chiếu một đối tượng mà các nhà nghiên cứu người Việt sử dụng thông qua hệ thống biểu thức quy chiếu thực tế trong bài báo khoa học.
- Bước đầu xác lập ý nghĩa của biểu thức quy chiếu trong phân tích diễn ngôn và phương thức thực hiện chức năng liên nhân giữa người viết và người đọc.
- Làm sáng tỏ vai trò liên kết cấu trúc và bảo đảm tính chuẩn mực học thuật của biểu thức quy chiếu trong văn bản khoa học xã hội.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp dữ liệu và luận cứ giúp nâng cao hiệu quả đọc hiểu, phân tích và xử lý văn bản khoa học xã hội trong mạch diễn ngôn.
- Cung cấp cơ sở khoa học để các tác giả nâng cao nhận thức, lựa chọn và sử dụng biểu thức quy chiếu một cách hiệu quả, mạch lạc khi viết công trình nghiên cứu khoa học xã hội.
- Ứng dụng trực tiếp vào công tác biên tập, chuẩn hóa cách diễn đạt và kiểm soát văn phong học thuật tại Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án khuyến nghị các tác giả viết bài báo khoa học xã hội cần tăng cường sử dụng đa dạng các biểu thức miêu tả trong quy chiếu chỉ người. Việc này giúp linh hoạt hóa cách diễn đạt, tạo sự sinh động, mới mẻ cho văn bản, đồng thời ngăn chặn sự lặp lại đơn điệu và củng cố tính chuyên nghiệp, chặt chẽ của lập luận khoa học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Căn cứ theo phạm vi được công bố, luận án chủ động khu biệt đối tượng nghiên cứu ở các biểu thức quy chiếu chỉ người, do đó chưa khảo sát các biểu thức quy chiếu chỉ vật, chỉ sự kiện hay khái niệm trừu tượng. Ngữ liệu khảo sát mới tập trung vào các bài viết nghiên cứu trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2017 - 2022 (72 số, với 57 bài khảo sát dẫn chứng), chưa mở rộng sang các tạp chí chuyên ngành hẹp khác hoặc các dạng thức văn bản khoa học khác như luận văn, sách chuyên khảo, giáo trình.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các biểu thức quy chiếu phi nhân xưng (quy chiếu sự vật, hiện tượng, khái niệm khoa học); mở rộng nguồn ngữ liệu khảo sát sang nhiều tạp chí thuộc các phân ngành khoa học khác nhau và các thể loại ấn phẩm học thuật đa dạng để so sánh đối chiếu đặc trưng thể loại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động chuyên môn sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngôn ngữ học: Tài liệu hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu chuyên sâu về Ngữ dụng học, Ngữ nghĩa học và Phân tích diễn ngôn; đặc biệt là phần tổng quan lý thuyết hệ thống ở Chương 1 và phương pháp tiếp cận cấu tạo danh ngữ ở Chương 2.
- Giảng viên ngôn ngữ học và các nhà nghiên cứu khoa học xã hội: Cung cấp khung phân tích về chức năng liên nhân và phương thức quy chiếu thực tế trong văn bản tiếng Việt; hỗ trợ giảng dạy các học phần về phương pháp viết bài báo khoa học.
- Biên tập viên tạp chí khoa học và nhà xuất bản: Cung cấp tiêu chuẩn tham chiếu thực tế để biên tập, hiệu đính văn phong học thuật, hỗ trợ xử lý lỗi dùng từ, lặp ngữ đoạn hồi chỉ hoặc sử dụng đại từ xưng hô thiếu chuẩn mực trong các bản thảo nghiên cứu khoa học xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "biểu thức quy chiếu" (referring expression) lần đầu tiên xuất hiện trong công trình nào?
Thuật ngữ này được nhà ngôn ngữ học L. Hjelmslev đưa ra lần đầu tiên vào năm 1943 trong tác phẩm tiếng Đan Mạch Omkring sprogteoriens grundlæggelse, sau đó được Nhà xuất bản Baltimore thuộc Đại học Indiana (Hoa Kỳ) dịch và xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1953 với tựa đề Prolegomena to a theory of language.
2. Đối tượng và ngữ liệu khảo sát của luận án được xác định cụ thể như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biểu thức quy chiếu chỉ người trong văn bản khoa học xã hội. Nguồn ngữ liệu được thu thập từ toàn bộ các bài viết nghiên cứu công bố trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2022 qua 72 số xuất bản, trong đó có 57 bài viết chứa biểu thức quy chiếu được đưa vào phụ lục làm dẫn chứng minh họa chi tiết.
3. Luận án phân loại cấu tạo của biểu thức quy chiếu chỉ người thành những dạng thức nào?
Luận án phân loại cấu tạo thành: biểu thức tên riêng, biểu thức miêu tả, biểu thức chỉ xuất, và 4 dạng kết hợp phức hợp gồm: (1) tên riêng kết hợp với miêu tả, (2) tên riêng kết hợp với chỉ xuất, (3) miêu tả kết hợp với chỉ xuất, (4) tên riêng kết hợp với miêu tả và chỉ xuất.
4. Theo John R. Searle được dẫn trong luận án, cần có những điều kiện nào để người nhận diện đúng đối tượng quy chiếu?
Searle đề xuất 7 điều kiện: (1) Đảm bảo điều kiện đầu vào và đầu ra; (2) Phát ngôn diễn ra như một phần của chuỗi phát ngôn/chuỗi câu; (3) Phát ngôn được xem xét như một hành vi tại lời; (4) Phải có đối tượng được người nói/viết muốn người nghe/đọc nhận diện; (5) Người nói/viết dự kiến người nghe/đọc sẽ nhận diện được; (6) Người nói/viết dự tính người nghe/đọc nhận diện được thông qua hiểu quy tắc phát ngôn và dựa trên ngữ cảnh; (7) Các quy tắc ngữ nghĩa phải được thỏa mãn đầy đủ.
5. Vì sao luận án khuyến nghị tác giả bài báo khoa học xã hội nên sử dụng đa dạng các biểu thức miêu tả?
Theo luận án, việc sử dụng đa dạng các biểu thức miêu tả giúp thay đổi và phong phú hóa cách diễn đạt, tạo sự mới mẻ và sinh động cho văn bản, ngăn chặn tình trạng lặp từ đơn điệu, đồng thời thiết lập mối liên kết mạch lạc và duy trì phong cách hàn lâm, chuyên nghiệp trong lập luận.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Biểu thức quy chiếu trong các văn bản khoa học xã hội" của tác giả Nguyễn Đức Long là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn đối với loại hình bài báo khoa học xã hội tiếng Việt. Bằng việc kết hợp các phương pháp miêu tả ngôn ngữ học, phân tích diễn ngôn và thủ pháp thống kê trên ngữ liệu 72 số Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022, tác giả đã làm rõ đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và cơ chế hành chức liên nhân của biểu thức quy chiếu chỉ người. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp làm sáng tỏ phương thức quy chiếu trong tiếng Việt mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác biên tập học thuật và kỹ năng tạo lập văn bản khoa học.