phần mở đầu, 3 chương và phần két luận, khuyến nghị. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG PHONG CÁCH QUẢN LÍ DÂN CHỦ CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. NHỮNG VÁN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHONG CÁCH QUẢN LÍ 1. Hoạt động lao động và lao động quản lí 1.
Hoạt động lao động Hoạt động là một quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với hiện thực khách quan mà thông qua đó mối quan hệ giữa con người với hiện thực được thiết lập. Thế giới khách quan gồm hai thành phần đó là thế giới đồ vật và thế giới con người. Khi con người thiết lập mối quan hệ của mình với thế giới đồ vật, khi đó con người thực hiện hoạt động có đối tượng nhằm tạo ra những sản phẩm để thoả mãn nhu cầu sống của bản thân. Khi con người thiết lập mối quan hệ với những người khác, khi đó con người thực hiện hoạt động giao lưu nhằm cộng tác hoạt động và đồng thời thoả mãn nhu cầu giao lưu của mình.
Như vậy, cuộc sống của con người là một dòng chảy các hoạt động. Trong và bằng các hoạt động đó con người bản chất xã hội của con người được hình thành và phát triển. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động của con người có tính hai mặt, hay còn gọi là hai quá trình thâm nhập, đan xen vào nhau. Đó là quá trình con người tác động thế giới đồ vật (đối tượng hoá và quá trình thế giới đồ vật tấc động đến con người (chủ thể hoá).
Hai quá trình này tạo cho hoạt động những đặc điểm cơ bản sau: - Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng (có thể là vật chất hoặc tinh thần) - Hoạt động bao giờ cũng mang tính chủ thể, bao giờ cũng do một chủ thể, một cá nhân hay một nhóm người tiến hành. - Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích. - Hoạt động mang tính tích cực. - Hoạt động mang tính gián tiếp Nghiên cứu về hoạt động của con người có thể khái quát thành 4 loại hoạt động chính là : Hoạt động vui chơi; Hoạt động học tập; Hoạt động lao động (làm việc); Hoạt động giao tiếp.
Mỗi hoạt động nói trên sẽ là hoạt động chủ đạo đối với từng giai đoạn lứa tuổi của con người. Hoạt động lao động là hoạt động cơ bản và phổ biến với mọi người. Lao động là hoạt động có mục đích của con người. Lao động dưới bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào cũng đều diễn ra trong sự kết hợp của 3 yếu tố : công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động (chủ thể lao động).
Lao động do đó cần phải được tổ chức. Tổ chức lao động là quá trình tuyển chọn, sắp xếp, bố trí sức lao động của con người (chủ thể) trong việc sử dụng các công cụ lao động (ngôn ngữ, tư duy …) tác động lên đối tượng lao động nhằm đạt được mục đích của quá trình đó. Lao động bao gồm lao động chân tay và lao động trí óc. Lao động chân tay là loại hình lao động chủ thể tác động trực tiếp tới công cụ (phương tiện) lao động cho dù công cụ vô cùng hiện đại.
Lao động trí óc là loại lao động gián tiếp 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với cả công cụ lao động theo nghĩa thông thường và công cụ đặc biệt là thông tin tra cứu và tư duy. Lao động quản lí - Quản lý Khi con người phối hơp ý chí và hành động với nhau một các có ý thức sẽ hình thành nhóm (tổ chức). Một trong những đặc trưng của nhóm là xuất hiện cá nhân có ưu thế hơn các cá nhân khác và có khả năng chi phối đối với các cá nhân đó. đây là biểu hiện và là mầm mống của hoạt động sẽ được chuyên môn hoá với tên gọi: Quản lí.
Như vậy, quản lí xuất hiện một cách tất yếu cùng với hình thức tồn tại đặc bịêt của con người trong thế giới khách quan – hình thức nhóm ( xã hội). Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lí, tuy nhiên những dấu hiệu chung của quản lí được các định nghĩa đề cập đến bao gồm: + Phải có chủ thể (cá nhân hoặc một nhóm người) + Phải có mục tiêu + Phải có khách thể (đối tượng quản lý). Từ những dấu hiệu trên, có thể quan niệm: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã xác định. Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý thông qua thực hiện sáng tạo các chức năng để tổ chức vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất.
Xét theo phương diện chính trị xã hội, quản lý là thuộc tính của bất kỳ xã hội nào, là quá trình phát triển của xã hội, kết hợp tri thức với lao động để quản lý các quá trình xã hội, quản lý con người. Mục tiêu của quản lý là vận dụng linh 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt cơ chế quản lý tác động đến con người một cách hợp qui luật để đạt điều kiện tối ưu cho người lao động. Xét theo phương diện kĩ thuật - hành động, quản lý là quá trình điều khiển, tác động đến bộ máy nhằm đạt mục tiêu : Tổ chức, sắp xếp sao cho tối ưu nhất chống lại sự lộn xộn. Kích thích thúc đẩy, điều hành, chỉ huy.
Vậy : Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người để đạt mục tiêu, mục đích, đạt ý chí của người quản lí và phù hợp với quy luật khách quan. Một xã hội, một tổ chức hay một cộng đồng muốn phát triển tốt, trước hết phải có một cơ chế quản lý tốt. Cơ chế ấy phải chi phối và tác động vào mọi lĩnh vực hoạt động của hệ thống tổ chức, xã hội và làm cho nó vận động theo chiều hướng tích cực mà chủ thể quản lý đã định hướng từ trước. Xét về mặt chức năng, quản lý có 4 chức năng cơ bản: + Kế hoạch hoá : Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó + Tổ chức : Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực, Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế.
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý và sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. Tổ chức chính là sắp xếp và phân phối nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đề ra + Lãnh đạo (chỉ đạo) : Là bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt mục tiêu của tổ chức.
Lãnh đạo là ảnh hưởng đến hành vi, thái độ người khác nhằm đạt tới mục tiêu, được thực hiện sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng. + Kiểm tra : Là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết, từ đó đánh giá và điều phối các hoạt động nhằm đạt mục tiêu. - Lao động quản lý Khái niệm quản lý cho ta thấy đó là một loại hình lao động – là một nghề – là một nghệ thuật. Xét về mặt tính chất đặc điểm : Lao động quản lý là lao động trí óc được tách thành 3 dạng : + Loại lao động trí óc tạo ra sản phẩm lao động có thể tách riêng ra nhưng vẫn gắn với bản thân người lao động (người ra quyết định không trực tiếp tham gia người quản lý) + Các hoạt động lao động không tách riêng bản thân người lao động (người ra quyết định là người tham gia quản lý trực tiếp) + Tạo ra sản phẩm không tách riêng và được đóng góp vào giá trị chung của nhân loại, xã hội (địa phương).
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét đối tượng, công cụ và sản phẩm của lao động của người quản lý cho thấy : + Đối tượng của lao động quản lý là con người và thông tin (đầy đủ, kịp thời, chính xác) + Công cụ của lao động quản lý có 3 khía cạnh cơ bản : Tư duy : Học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Hệ thống phương tiện kỹ thuật (không thể thiếu với người quản lý) Thông tin tra cứu (công cụ lao động là quan trọng, là văn bản pháp quy, chỉ thị, nghị quyết. ) + Sản phẩm của lao động quản lý là những quyết định quản lý như các mệnh lệnh, kế hoạch, chỉ thị. Có thể khái quát những phan tích trên bằng hình 1.dưới đây: Đối tượng lao động Công cụ quản lý Sản phẩm quản lý quản lý - Con người - Tư duy - Quyết định quản lý - Thông tin - Phương tiên kỹ thuật Hình 1.1: Quan hệ giữa đối tƣợng, công cụ và sản phẩm của lao động QL Các kĩ năng quản lý được khái quát thành 3 nhóm : + Nhóm 1 : Kỹ năng kỹ thuật là kỹ năng thực hiện một quy trình công việc nào đó. Đây là nhóm hết sức cơ bản.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Nhóm 2 : Kỹ năng quan hệ con người là kỹ năng hiểu được người khác quan hệ một cách có hiệu quả với họ, kết hợp họ làm việc với nhau thành một nhóm (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chuyển giao thông tin). + Nhóm 3 : Kỹ năng nhận thức là kỹ năng nhìn thấy “vấn đề” trong những sự việc đang diễn ra, kỹ năng phân tích, tổng hợp, phán đoán và dự báo (ra quyết định cần vận dụng kỹ năng nhận thức).