Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, họ Ngài độc Lymantriidae có khoảng 2500 loài được biết đến. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về họ Ngài độc Lymantriidae như: William E Wallner và Katherine A. Tác giả đã thống kê có khoảng 2494 loài thuộc họ Ngài độc Lymantriidae, riêng chi Dasychira có 432 loài, chi Euproctis có 796 loài. Theo De Freina và Witt (1987), ở Châu âu có 35 loài trong đó họ đã nghiên cứu về chi Dasychira.
N¨m 1998, Andrew M Liebholh, Yasutomo, Higashiura, Akira unno cho biÕt ¶nh h-ëng cña yÕu tè thiªn ®Þch ë c¸c kiÓu rõng ®èi víi s©u h¹i thuéc hä Ngµi ®éc Lymantriidae ë NhËt B¶n [31]. Ở Trung Quốc có khoảng 270 loài họ Ngài độc Lymantriidae, sâu róm có 41 loài [33]. Trong đó Sâu róm 4 túm lông là một trong những loài phổ biến gây hại trên rừng thông. Theo các nghiên cứu ở Trung Quốc: Sâu róm 4 túm lông hại thông thuộc họ Ngài độc (Lymantriidae), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera).
Trong họ Ngài độc có một số giống mà sâu non của chúng có 4 túm lông dạng bàn chải ở phía trên lưng, đó là Dasychira, Calliteara, Orgyia, Pantana (Xiao Gangrou, 1991) [30]. Nhiều loài trong số đó hại cây lâm nghiệp, trong đó có Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) (Xiao Gangrou, 1991; Zhang Zhen et al, 2005). Năm 1991, Xiao Gangrou đã mô tả 2 loài thuộc giống Dasychira là D. axutha Collenette và D.
grotei Moore, trong đó loài thứ nhất có những đặc điểm khá giống với sâu róm 4 túm lông ở Việt Nam, cũng gây hại trên cây Thông đuôi ngựa. grotei có lông độc dài, dầy hơn, 4 túm lông cũng dài hơn. Giống Orgyia có 5 loài, khác với giống Dasychira ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 một số đặc điểm như đa số con trưởng thành cái không có cánh. Một giống khác mà sâu non cũng có 4 túm lông là Pantana.
Trong tài liệu của Xiao Gangrou không thấy đề cập tới phương pháp phòng trừ các loài sâu hại này. Nhìn chung nhiều loài thuộc họ Lymantriidae có tính đa thực hoặc hẹp thực. Theo nghiên cứu của Guo kai-yueh, Wu qiao-ming và Li chang-zhi (1997-1999) loài Dasychira axutha được xác định là gây hại chủ yếu trên Thông đuôi ngựa và Thông nhựa, thấy xuất hiện ở nhiều tỉnh của Trung Quốc như Hắc Long Giang, Liêu Ninh, Triết Giang, Hồ Bắc, Giang Tây, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây… Số thế hệ trong năm khá khác nhau: 2 thế hệ ở khu vực phía bắc Trung Quốc, 3 thế hệ ở khu vực tây bắc, 4 thế hệ ở khu vực phía nam, qua đông ở pha nhộng. Trưởng thành xuất hiện vào tháng 4, có tính xu quang mạnh.
Buổi tối trưởng thành cái đẻ trứng vào lá thông, trứng được xếp thành hàng khoảng 50-60 quả. Thời gian phát triển phôi thai kéo dài 8-9 ngày (thế hệ 1) hoặc 6-7 ngày (thế hệ 2). Sâu non có khả năng tiết tơ, có 7 tuổi, gây hại mạnh từ tuổi 3 trở đi, mỗi sâu non ăn hết 250-300 lá. Sâu non thế hệ 1 gây hại mạnh trong tháng 5-6, tháng 7 hóa nhộng ở trên cây hoặc xuống gốc cây hay đất.
Trưởng thành vũ hóa vào tháng 7-8, lứa sâu non thế hệ 2 gây hại vào tháng 8-9, sau đó hóa nhộng trong phần dưới của cây và qua đông. Một số đặc trưng hình thái cơ bản Sâu róm 4 túm lông: Trứng: Trứng hình cầu dẹt, đường kính 1,10 1,22 mm, bình quân 1,16 mm, ở giữa lõm, có điểm đen nhỏ. Ấu trùng: Ấu trùng thành thục dài 24,86 31,62 mm. Đầu màu nâu đỏ, trán và vùng trán màu nâu thẩm, ở hai bên ngực trước, mỗi đốt có 1 túm lông dài màu nâu đen chìa ra, hướng về phía đầu, trên lưng từ đốt bụng 1 đến đốt bụng 4, mỗi đốt có cụm lông màu vàng cọ.
Nhộng: Nhộng cái dài 17,1 26,2 mm, rộng 7,10 9,98 mm, nhộng đực dài 14,32 20,46 mm, rộng 5,94 8,64 mm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Kén: Kén hình bầu dục, màu vàng nhạt hoặc vàng cọ dài 30 mm, rộng 19 mm, xù xì, có lông độc màu đen. Sâu trưởng thành: Con cái cơ thể dài 18,04 20,18mm, sải cánh dài 53,34 59,86 mm. Con đực dài 16,84 17,34 mm, sải cánh 38,46 49,52 mm.
Cơ thể màu tro hoặc màu đen xám, đầu màu trắng xám, mắt kép màu đen, râu môi dưới màu nâu, lưng ngực màu nâu. Các tác giả đã đưa ra một số biện pháp phòng trừ: Biện pháp vật lý cơ giới: Thu bắt khi mới có ít cây bị hại. Bẫy bắt trưởng thành bằng bẫy đèn, bẫy pheromon. Biện pháp sinh học: Sử dụng các loài côn trùng ký sinh trứng (Ong mắt đỏ, ong tấm đen, tấm xanh), ký sinh sâu non (Ong kén - Braconidae), côn trùng bắt mồi ăn thịt như bọ ngựa.
Sử dụng chế phẩm BT. Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc trừ sâu hóa học thuộc nhóm diflubenzuron (Dimilin), tebufenozide (Confirm, Mimic); pyrethroid như permethrin, Carbaryl (Sevin, Sevimol)… 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Năm 1987, Alexander Schintlmeister [32] có báo cáo khoa học về khu hệ côn trùng thuộc họ Lymantriidae và Notodontidae ở Việt Nam. Trong báo cáo này họ Lymantriidae có 31 loài, trong đó có 9 loài mới phát hiện.
Đây là kết quả nghiên cứu trên cơ sở kế thừa mẫu vật đã được thu thập từ năm 1980- 1982 của Spitzer, từ năm 1978-1982 của Helia ở Hà Nội, Đồ Sơn, Tam Đảo, Hạ Long, Sa Pa và một số khu vực khác. Báo cáo cũng cho thấy côn trùng thuộc 2 họ này đã được nghiên cứu từ những năm 1929 bởi De Joannis. Cho đến thời điểm năm 1987, số loài thuộc họ Lymantriidae đã được giám định ở Việt Nam là 84 loài. Theo tác giả có tới 80% số loài thuộc họ Lymantriidae cũng có ở Trung Quốc.
Có 2 loài thuộc giống Calliteara là C. horsfiedii Saunder, 1851 (thu được ở Hà Nội năm 1976) và C. axutha (Collennette, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hai loài thuộc Dasychira là D.
Giống Orgyia cũng có 2 loài là O. Hai loài Pantana là P. Sâu róm 4 túm lông được phát hiện và thấy phát dịch ở Quảng Ninh (Nguyễn Bá Thụ và Đào Xuân Trường, 2004) [22]. Phạm Quang Thu, Lê Văn Bình (2008)[2] cho rằng sâu này là loài Dasychira axutha Collennette, 1934, loài sâu róm này là loài sâu có sức sinh sản cao và gây hại mạnh.
Nghiên cứu đã đưa ra được những thông tin cơ bản về đặc điểm hình thái và mức gây hại của sâu róm 4 túm lông. Theo Trung tâm Tin học Bộ NN&PTNT tình hình dịch sâu róm 4 túm lông được khái quát như sau: Cuối năm 2005 tại xã Cẩm Đàn (Sơn Động, Bắc Giang), dịch đã xảy ra trên diện tích gần 10ha. Năm 2007, 45ha rừng thông của bản Đồng Bưa đã bị sâu róm 4 túm lông ăn hại, trong đó 15ha bị hại nặng, toàn xã Cẩm Đàn có 80ha bị hại. Ngoài ra ở Hữu Sản 20 ha, Vân Sơn 5 ha thông cũng bị hại bởi loài Sâu róm 4 túm lông.
Năm 2005, ở các khu vực trồng thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra hiện tượng sâu róm ăn trụi lá, có nguy cơ chết cây. Ở huyện Đình Lập, chỉ tính 20 ngày đầu tháng 9 đã có tới 450 ha rừng thông bị thiệt hại, trong đó có khoảng 165 ha rừng bị sâu róm phá hoại nặng nề. Mật độ sâu là 411 con trên một cây. Rừng thông của các huyện Lộc Bình, Văn Lãng, Văn Quan bị sâu róm ăn lá bắt đầu từ tháng 9/2007 với mật độ từ 50 đến 100 con/cây, nhiều nơi từ 300 đến 400con/cây, làm cho 600 ha rừng thông bị nhiễm sâu róm nặng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhiều diện tích rừng thông bị chết cháy do sâu ăn trụi lá.
Tổng diện tích bị hại của Lạng Sơn trong năm 2007 là gần 2. Tại Bắc Kạn: Năm 2006: Sâu róm 4 túm lông xuất hiện ở Ngân Sơn (8ha) và Bạch Thông (20ha). Từ đầu tháng 10/2007 đến 12/2007, trên địa bàn huyện Ngân Sơn đã xuất hiện dịch sâu róm, chỉ trong 15 ngày đầu xuất hiện, sâu róm đã làm cho hàng chục ha rừng thông bị ăn trụi lá. Mật độ sâu róm luôn phổ biến từ 100 đến 300 con/cây, cá biệt có nơi lên đến trên 1.
Đến ngày 11/12/2007, dịch sâu róm đã lan đến 985 ha rừng thông tại huyện Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn). Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về biện pháp phòng trừ Sâu róm thông ở nước ta. Các tác giả đã đưa ra các biện pháp phòng trừ tổng hợp và riêng lẻ góp phần quan trọng trong việc phòng trừ sâu hại nói chung và Sâu róm thông nói riêng: Phạm Ngọc Anh (1963) khi nghiên cứu tập tính qua đông của Sâu róm thông đuôi ngựa (Dendrolimus punctatus Walker) đã đưa ra giải pháp giám sát, kết hợp biện pháp cơ giới. để phòng trừ sâu hại.
Nghiên cứu sản xuất một số chế phẩm sinh học như nấm Bạch cương, Lục cương (Beauveria bassiana và Metazhizium) phục vụ cho việc phòng trừ Sâu róm thông từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Ninh. - Năm 1990, Lê Nam Hùng [8] với báo cáo kết quả: “Nghiên cứu biện pháp dự tính, dự báo và phòng trừ tổng hợp Sâu róm thông Dendrolimus punctatus Walker ở miền Bắc Việt Nam” đã một bước cụ thể hoá nguyên lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 phòng trừ tổng hợp loài sâu hại này. Tuy nhiên, các phương pháp dự tính, dự báo được đề cập trong nghiên cứu phần lớn dựa vào một số đặc tính sinh vật học của Sâu róm thông nhưng chưa chú ý tới đặc điểm dịch của nó, mặt khác phạm vi ứng dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp ở công trình này đang ở phạm vị hẹp của miền Bắc Việt Nam. Năm 1991 Billings đã đưa ra các biện pháp phòng trừ tổng hợp Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) như sau: - Điều tra, giám sát: Xác định địa điểm, đặc điểm lập địa và mức độ dịch hại; Nghiên cứu về dịch hại, lập địa.
để đánh giá mức độ nguy hiểm cho các khu vực; Điều tra các khu vực nguy hiểm xác định đặc điểm quần thể sâu. - Các biện pháp phòng trừ: Bắt giết; Áp dụng hạn chế biện pháp hóa học ở khu vực có nguy cơ dịch cao; Sử dụng thiên địch. - Biện pháp dài hạn: Nghiên cứu sinh học, sinh thái của sâu hại; Chú ý các biện pháp lâm sinh: Tránh rừng thuần loài, mật độ quá dầy, giống cây mẫn cảm; Tập huấn IPM cho cán bộ địa phương. Lê Thị Diên (1997) đã nghiên cứu phương án phòng trừ sâu bệnh hại rừng thông tại Lâm trường Tiền phong, Huế [6].
Tác giả đã xây dựng một số cơ sở.