MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây ở Việt Nam, các DNNVV đƣợc thành lập và phát triển với tốc độ khá nhanh. Các DNNVV đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển KTXH, làm năng động một nền kinh tế nhiều thành phần, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Tuy nhiên, cùng với xu thế chung của tiến trình hội nhập, các DNNVV của Việt Nam đang đứng trƣớc rất nhiều những khó khăn, thách thức, cần tìm ra những hƣớng đi đúng đắn để có thể vững vàng trong cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thế giới.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 98% tổng số DN đang hoạt động trên cả nƣớc, trong đó số DN vừa chỉ chiếm 2,2%, DN nhỏ chiếm 29,6% và còn lại 68,2% là siêu nhỏ. Trên thực tế, DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi tạo ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhập cho ngƣời lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tƣ phát triển, xóa đói giảm nghèo… Hải Phòng là trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, một trong ba cực tăng trƣởng quan trọng nhất của vùng kinh tế động lực phía Bắc. Với nhiều lợi thế về vị trí địa lý, lợi thế về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, lợi thế về nguồn nhân lực, lợi thế về văn hóa, du lịch, giải trí… cùng các chính sách thu hút đầu tƣ của thành phố, Hải Phòng có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng.
Theo số liệu thống kê, Hải Phòng có khoảng trên 16.000 DNNVV đang hoạt động. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Biện pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đề ra các biện pháp thúc đẩy phát triển DNNVV trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Cụ thể: 2 Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển DNNVV, qua đánh giá thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012-2017, chỉ ra những thành công và hạn chế còn tồn tại, luận văn đề xuất một số biện pháp và kiến nghị nhằm phát triển DNNVV trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các nội dung phát triển DNNVV trên địa bàn thành phố Hải Phòng. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu DNNVV trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2012 -2017. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp luận: Phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. - Phƣơng pháp cụ thể: + Phƣơng pháp hệ thống: Thông tin về DNNVV đƣợc thu thập từ nhiều tài liệu khác nhau nhờ hệ thống hóa sẽ có cách nhìn toàn diện về DNVVN, thấy đƣợc mối quan hệ hữu cơ đối với các thành tố khác của nền kinh tế.
+ Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: phân chia các DNNVV theo thành phần kinh tế; loại hình doanh nghiệp; ngành kinh doanh… từ đó tìm ta đƣợc quy luật vận động của quá trình phát triển DNVVN. + Một số phƣơng pháp khác nhƣ: thống kê, lấy ý kiến chuyên gia… 5. Bố cục luận văn Luận văn bao gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cở sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Chƣơng 2: Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012-2017 Chƣơng 3: Biện pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hải Phòng 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Công văn số 681/CP- KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tƣớng Chính phủ quy định tiêu chí tạm thời về DNNVV thì tiêu chí xác định là các DN “có vốn điều lệ dƣới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dƣới 200 ngƣời”. Tiêu chí này là quy ƣớc hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ DNVVN, giúp các cơ quan thuộc bộ máy Nhà nƣớc thực thi các chính sách đối với DNVVN. Còn các tổ chức phi chính phủ lại đƣa ra các tiêu chí xác định của riêng mình về DNNVV nhằm định hƣớng mục tiêu và đối tƣợng hỗ trợ hoạt động của tổ chức mình. Đến năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”.
Trong đó khái niệm DNNVV đã thay đổi: “là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngƣời” [2, tr5]. Theo Nghị định này, đối tƣợng đƣợc xác định là DNNVV bao gồm các DN thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc; các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Và vì vậy, tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu chí lao động hoặc vốn so với quy định thuộc Nghị định này đều đƣợc coi là DNVVN. Trong số các khái niệm về DNNVV ở nƣớc ta hiện nay, khái niệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ đƣa ra đang đƣợc áp dụng rộng rãi, là hành lang pháp lý để xác định DNNVV, cụ thể là: “DNNVV ở Việt Nam là các chủ thể 4 SXKD đƣợc thành lập theo các quy định của pháp luật, có qui mô về vốn và/ hoặc số lƣợng lao động phù hợp với quy định của Chính phủ” [4, tr7].
Quy định của Chính phủ về “vốn và/ hoặc số lƣợng lao động” của DNNVV, gần đây đã đƣợc ban hành tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009, trong đó nêu khái niệm: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên)”. Nghị định cũng công bố bảng tiêu chí xác định DNNVV nhƣ sau [2]: Bảng 1.1: Tiêu chí DNNVV của Việt Nam Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động vốn vốn I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng ngƣời đến đồng đến ngƣời đến thủy sản và xuống trở xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời thủy sản II. Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng nghiệp và ngƣời đến đồng đến ngƣời đến xuống trở xuống dân dụng 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời III.Thƣơng Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 10 ngƣời trở 10 tỷ đồng mại và dịch ngƣời đến đồng đến 50 ngƣời đến xuống trở xuống vụ 50 ngƣời tỷ đồng 100 ngƣời (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ) 1.
Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa - Thứ nhất: Các DNNVV ở Việt Nam rất đa dạng về loại hình tổ chức kinh doanh, về lĩnh vực kinh doanh, về hình thức sở hữu, về địa bàn hoạt động. Trƣớc kia trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, các DNNVV tồn tại chủ yếu dƣới hai loại là DN Nhà nƣớc và hợp tác xã thì hiện nay chúng tồn tại, phát triển ở mọi thành phần kinh tế nhƣ DN Nhà nƣớc, công ty liên doanh, DN tƣ nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã… 5 - Thứ hai: Tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến các DNNVV tại Việt Nam là chủ yếu nói đến các DN thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Do tính lịch sử của quá trình hình thành, phát triển các thành phần kinh tế của nƣớc ta, đại bộ phận các DNNVV đều thuộc khu vực ngoài quốc doanh mà điển hình nhất là kinh tế tƣ nhân.
- Thứ ba: Các DNNVV Việt Nam hiện nay gắn liền với công nghệ lạc hậu, trình độ nhân lực không cao, khả năng tiếp cận thông tin chƣa tốt. - Thứ tư: Môi trƣờng pháp lý cho sự phát triển của các DNNVV Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nên còn nhiều sự chồng chéo dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện của DNNVV. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Thứ nhất: Các DNNVV chiếm đa số về mặt số lƣợng trong tổng số các DN, cung cấp một khối lƣợng lớn, đa dạng và phong phú về sản phẩm, đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân và tăng trƣởng kinh tế. Trong các loại hình SXKD ở nƣớc ta hiện nay DNNVV có sức lan toả trong mọi lĩnh vực của đời sống KTXH.
Theo tiêu chí mới thì DNNVV chiếm 98% tổng số các DN thuộc các hình thức: DN Nhà nƣớc, DN tƣ nhân, công ty cổ phần, DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. - Thứ hai: DNNVV góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao động, góp phần ổn định xã hội. Thực tế những năm qua cho thấy toàn bộ các DNNVV mà phần lớn là khu vực ngoài quốc doanh là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho tất cả các lĩnh vực. - Thứ ba: Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ.
Từ các đặc trƣng hoạt động SXKD của DNNVV đã tạo ra cho DN lợi thế về địa điểm hoạt động SXKD. - Thứ tư: Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động. Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi DN phụ thuộc rất nhiều vào những nhà sáng lập. Họ luôn là ngƣời đi đầu trong đổi mới, tìm kiếm phƣơng thức mới, đặt ra nhiệm vụ cho phù hợp với môi trƣờng kinh doanh.
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Thuật ngữ “Phát triển” dùng trong nghiên cứu khoa học và trong sinh hoạt hàng ngày nhƣng đến nay chƣa có khái niệm “Phát triển” đƣợc hiểu một cách đầy đủ, đúng đắn.