CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) tồn tại và phát triển gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công dân đối với hoạt động kinh tế. NHTM được coi như là một công cụ tiền tệ thân thuộc đối với cuộc sống kinh tế.
Mọi người đều chịu tác động thông qua sự hoạt động của Ngân hàng, dù cho họ chỉ là khách vay tiền hoặc một người vay hay thậm chí là người đang làm thuê tại một công ty có vay nợ thông qua sử dụng những dịch vụ Ngân hàng. Hiện nay có rất nhiều cách giải thích Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Theo Bộ luật Ngân hàng của Pháp thì định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là bất kỳ doanh nghiệp hay pháp nhân nào hoạt động thường nhận của dân chúng dưới danh nghĩa ký gửi hay là dạng khác khoản tiền mà có thể cung cấp cho bản thân khách hàng nhằm thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và tín dụng hay là dịch vụ ngân hàng". Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: "Ngân hàng thương mại là đơn vị kinh doanh tiền tệ có hoạt động chính theo định kỳ là nhận đồng tiền ký gửi ở khách với mục đích thanh toán rồi sử dụng một số tiền ấy để trả vay hoặc các nghiệp vụ chiết khấu và cung cấp phương tiện thanh toán" [6, tr 10] Như vậy, tuy có nhiều kiểu thể hiện khác nhau đối với định nghĩa NHTM, nhưng chung người ta đều nhận thấy rằng: Hầu hết các NHTM điều có chung một tính chất đó là hình thức nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn gồm có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Một số đặc điểm chung của Ngân hàng thương mại có thể kể đến như sau: 7 Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được quy định tại Luật ngân hàng và Luật thành lập tổ chức tín dụng trong lĩnh vực kinh doanh không vì mục tiêu sinh lợi.
Ngân hàng thương mại được tổ chức và tồn tại dưới hình thái pháp luật nhất định. Ngân hàng là tổ chức tín dụng được hình thành nhằm tiến hành những nghiệp vụ của ngân hàng. Ngân hàng thương mại được hình thành trên cơ sở luật ngân hàng và quyết định thành lập của ngân hàng trung ương và là tổ chức tín dụng không được vay tiền không thời hạn dưới một năm. Ngoài ra ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng không có khả năng hoàn trả (công ty tín dụng và dịch vụ cho mướn tín dụng).
Chức năng của Ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng: Khi thực thi chức năng trung gian tín dụng thì ngân hàng sẽ đóng vai trò là trung gian giữa người thừa vốn và người có nhu cầu vay vốn. Với chức năng trên thì ngân hàng vừa phải đóng vai trò là người đi vay, ngân hàng đóng vai trò là người đi vay và thu lợi là khoản chênh của lãi suất tiền gửi và lãi suất đi vay và nhằm đảm bảo lợi nhuận trên cả các mặt tham gia người gửi tiền và người đi vay. Đối với người gửi tiền thì ngân hàng thu về lợi nhuận thông qua khoản vốn tạm nhàn rỗi dưới dạng lãi suất tiền gửi do ngân hàng chi trả đối với họ. Hơn nữa ngân hàng cũng bảo đảm cho người dân không chỉ an tâm với khoản tiền gửi mà còn cung ứng những phương thức giao dịch tiện lợi.
Đối với người đi vay thì ngân hàng sẽ đáp ứng những nhu cầu vốn một cách thuận tiện, an toàn và nhanh chóng như mua sắm hay trả góp mà lại không tốn thời gian về công sức tiền bạc vào vấn đề tìm các nguồn cung cấp vốn riêng lẻ. Đặc biệt là trong phát triển kinh tế thị trường thì chức năng tín dụng có vai trò to lớn đối với sự kích thích phát triển kinh tế thị trường bởi vì ngân hàng thoả mãn nhu cầu vốn sẽ giúp công cuộc phục hồi kinh tế có thể tiến hành nhanh chóng và tăng qui mô hoạt động. 8 Chức năng trung gian tín dụng có thể coi là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại hiện nay. Chức năng tạo tiền: Chức năng tạo tiền không bó hẹp phạm vi hoạt động in bổ sung tiền hay là phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước.
Bản thân mỗi ngân hàng thương mại cổ phần thông qua hoạt động thực hiện tốt chức năng của ngân hàng cũng có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay là tiền ghi sổ) dựa vào khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vào ngân hàng. Đây cũng là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng thông qua quá trình phát hành. Từ khoản tích luỹ đầu tiên, với việc cho vay bằng tiền, mạng lưới ngân hàng thương mại có khả năng tạo thêm số tiền gửi (hay tiền tín dụng) gấp 2-3 lần số tiền tăng thêm ban đầu. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số tiền mặt tích luỹ được để cho vay và số tiền cho vay ra thường được khách hàng sử dụng nhằm mua hàng hoá hoặc thanh toán dịch vụ.
Trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng lại được hiểu là một bộ phận của tiền thanh toán nên được doanh nghiệp sử dụng vào mua hàng hoá và thanh toán dịch vụ. Với chức năng tín dụng, hoạt động ngân hàng đã làm tăng tỷ trọng phương tiện thanh toán đối với nền kinh tế nhằm thoả mãn nhu cầu thanh toán, tiêu dùng của người dân. Rõ ràng quan niệm là tiền hay tiền trao đổi chính là tiền giấy được Ngân hàng trung ướng phát hành còn bao hàm một bộ phận nữa là lượng tiền giấy ghi vào sổ được những ngân hàng thương mại cổ phần tạo ra. Chức năng này cũng tạo ra mối tương quan của tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ.
Một khoản tín dụng được ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, nhờ thế làm tăng số tiền dự trữ. Chức năng trung gian thanh toán: Ngân hàng thương mại có nhiệm vụ là thủ quỹ cho khách hàng công ty và cá nhân nhằm thực hiện giao dịch thanh toán theo nhu cầu của khách hàng hoặc lấy tiền từ tài khoản tiền gửi của khách nhằm thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc chuyển sang tài khoản tiền gửi của khách 9 hàng tiền thu bán sản phẩm cùng những nguồn thu khác theo nhu cầu của họ. Với chức năng trên, hiện nay ngân hàng thương mại hỗ trợ cho khách hàng đa dạng hình thức thanh toán thuận tiện từ tiền mặt như lệnh chi, uỷ nhiệm thu, séc ngân hàng, chuyển khoản, thẻ tín dụng. Tuỳ theo mục đích sử dụng khách hàng sẽ chọn lựa cho bản thân phương tiện thanh toán hợp lý.
Nhờ như vậy nên những chủ thể kinh tế không phải cầm tiền trong ví hoặc đem theo tiền đến nhà chủ nợ hoặc gặp gỡ những ai đang thanh toán bất kể nơi gần hay là xa vì con nợ sẽ sử dụng một cách thức nào đó để thực hiện những khoản thanh toán. Do vậy mỗi chủ thể kinh tế sẽ tiết giảm được rất nhiều công sức, chi phí và có thể thực hiện thanh toán bình yên. Chức năng này tựu chung đã khuyến khích lưu thông hàng hoá, thúc đẩy nhanh quá trình thanh toán, vận tốc lưu thông tiền mặt để nhờ đấy góp phần thúc đẩy kinh tế. Đồng thời hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng đã hạn chế được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến giảm chi phí sản xuất tiền mặt như việc cấp phát, ghi chi hay quản lý.
Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 1.Tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tín dụng của ngân hàng thương mại Lịch sử chứng minh rằng quan hệ tín dụng xuất hiện và tồn tại do yêu cầu tất yếu của sự tuần hoàn vốn nhằm khắc phục tình trạng thừa hay thiếu vốn xảy ra phổ biến ở những chủ thể thuộc nền kinh tế thị trường. Nói một cách tổng quát thì tín dụng là việc chuyển giao tạm thời một lượng giá trị hay tài sản giữa người chủ sở hữu và người sử dụng theo một quãng thời hạn xác định và lúc mãn thời hạn thì người sử dụng sẽ có nghĩa vụ hoàn trả một lượng giá trị hay tài sản cao hơn giá trị của tài sản ban đầu. Như vậy, khái niệm tín dụng có ba nội hàm cơ bản là: tính chuyển giao tạm một lượng giá trị hay tài sản, tính thời gian và tính hoàn trả.
10 Tín dụng có nhiều loại hình, bao gồm cả tín dụng tiêu dùng, tín dụng thương mại, tín dụng đầu tư và tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là một trao đổi giữa tài sản (tiền mặt hoặc hiện vật) của bên cho vay (Ngân hàng và các tổ chức tín dụng) đối với bên đi vay (người dân, tổ chức và những chủ thể kinh doanh khác), theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn xác định theo hợp đồng và bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn vay và lãi suất cho bên cho vay nếu đến thời hạn thanh toán. Theo điều 14 và khoản 16 của điều 4 trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH của Quốc hội ngày 16 tháng 06 năm 2010 đã nêu rõ ràng: Tín dụng ngân hàng là hình thức tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, hoặc vốn huy động để thoả thuận cung cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả (cả gốc và lãi) thông qua những nghiệp vụ cho vay chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các dịch vụ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Đặc điểm và vai trò của tín dụng của ngân hàng thương mại - Đặc điểm của tín dụng của ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động chủ yếu của mỗi Ngân hàng thương mại.
Dư nợ tín dụng thông thường chiếm trên 50% tổng tài sản của Ngân hàng thương mại và lợi nhuận chủ yếu của mỗi Ngân hàng thương mại cũng bắt nguồn từ chính hoạt động này trong bối cảnh tín dụng luôn chiếm khoảng 50-70%. Bên cạnh việc mang tới khoản doanh thu và lợi nhuận cho mỗi Ngân hàng thì hoạt động tín dụng cũng đem tới khá nhiều rủi ro. Chính bởi lý do trên nên hoạt động tín dụng ngân hàng là sự chú ý nhiều nhất của mỗi Ngân hàng thương mại.