CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ 1. Tổng quan về thẻ ngân hàng 1. Vài nét về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Từ những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, có thể định nghĩa ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. [4, tr3] Theo Điều 4 - Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. [15] Theo nghị định số 59/2009 NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại thì: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần”.
Chức năng ngân hàng thương mại [23] - Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại (NHTM). Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh 5 lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại.
- Chức năng trung gian thanh toán Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
- Chức năng tạo tiền Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.
Thẻ ngân hàng 1. Nguồn gốc ra đời và phát triển của thẻ ngân hàng 6 Ngày nay, thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán thông dụng và không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Thẻ ra đời vào năm 1949 do ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế mang tên “Dinners Club” - ra đời một cách ngẫu nhiên trong một lần ăn tối tại nhà hàng, ông Frank quên không mang theo tiền để thanh toán và phải gọi điện về nhà nhờ người mang giúp. Chính tình huống đó ông đã nảy ra ý định về một phương tiện thanh toán thay thế tiền mặt có thể sử dụng được ở mọi nơi.
Sau đó, thẻ Dinners Club phát triển thành thẻ du lịch và được một lượng khách hàng đông đảo bởi họ có thể mua hàng trước mà không phải trả tiền ngay. Còn đối với các nhà bán lẻ, tuy họ phải chịu mức chiết khấu 5% nhưng doanh thu của họ tăng rất nhanh. Đến năm 1951, doanh thu của loại thẻ này lên đến hơn 1 triệu USD và số lượng thẻ ngày càng gia tăng, năm 1960 nó đã có mặt tại Nhật Bản. [1,tr27] Sau khi thẻ Diners Club ra đời năm 1949 thì tính đến năm 1955, hàng loạt thẻ mới ra đời như Trip Charge, Golden Key, Golden Club, Esquire Club, … Đến năm 1958, Carde Balnche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trường thẻ.
Riêng American Express tự phát hành thẻ và trực tiếp quản lý chủ thẻ, đây là thẻ du lịch và giải trí (T&E) lớn nhất thế giới. Không chỉ với chức năng chi trả, tấm thẻ này còn được người tiêu dùng xem là biểu tượng địa vị - giấy chứng nhận cho hình ảnh của một người giàu có. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, ý nghĩa và hình ảnh mà một thời được biểu tượng bằng những tấm thẻ nhựa xanh nhỏ bé của American Express đã không còn được xem trọng như trước kia. Sự ra đời của hàng loạt thẻ tín dụng khác nhau – với ít biểu tượng địa vị hơn nhưng lại mang tính tiện dụng thực tế hơn, đã thực sự đưa người tiêu dùng vào kỷ nguyên tiên có của thế giới hiện đại tương lai.
Đến năm 1966, Bank of American giới thiệu sản phẩm thẻ đầu tiên của mình mang tên Bank Americard mà sau này phát triển thành Visa. Cuối năm 1990, có khoảng 257 triệu thẻ Visa Card được lưu hành với doanh thu khoảng 7 354 tỷ USD. Cho đến năm 2004, đã có hơn 1,3 tỷ thẻ Visa lưu hành trên toàn thế giới, doanh thu tăng lên đến 2,9 nghìn tỷ USD. Năm 1966, sản phẩm Bank Americard gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt với Master Charge, được thành lập bởi Hiệp hội thẻ liên hàng quốc tế.
Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ hai trên thế giới, sau Visa. Chỉ trong năm 1996, MasterCard đã thực hiện thành công gần 6 tỷ giao dịch và đạt tổng doanh thu trên 675 tỷ USD. Ngày nay, MasterCard và Visa Card là hai loại thẻ lưu hành phổ biến nhất trên thế giới. Thẻ thanh toán dần được xem như là một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán.
Các loại thẻ Master, Visa, Diners Club, JCB, American Express (Amex) được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các loại thẻ thay nhau phân chia những thị trường rộng lớn. Thẻ Diners Club, thẻ du lịch và giải trí (T&E) đầu tiên được phát hành năm 1949 tại Mỹ. Năm 1960 là thẻ đầu tiên có mặt tại Nhật bản, chi nhánh được quản lý bởi CitiCop, người đứng đầu trong số ngân hàng phát hành thẻ. Năm 1990 có 6,9 triệu người sử dụng thẻ Diners Club trên toàn thế giới với doanh số khổng lồ 16 tỷ USD.
Hiện nay, thẻ Diners Club được sử dụng rộng rãi trên 150 quốc gia. Tại châu Á, Nhật bản là quốc gia đầu tiên phát hành thẻ với tên gọi là JCB, đây cũng là loại thẻ du lịch và giải trí do ngân hàng Sanwa phát hành và phát triển thành tổ chức thẻ quốc tế vào năm 1981. Hiện nay, JCB đã trở thành một trong những tổ chức thẻ mạnh nhất và là đối thủ lớn nhất của Amex trên thị trường T&E card. Thẻ JCB hoạt động theo cơ chế độc quyền, phát hành trực tiếp, không nhận thành viên như tổ chức Visa hay Master.
Khái niệm thẻ ngân hàng Đối với thẻ thanh toán, có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễn đạt nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó. Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán: 8 - Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo Hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. - Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant).
Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động. Tuy nhiên, theo Quyết định số 20/2007/-QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng thì: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”. “Giao dịch thẻ”: Là việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng.
Cấu trúc, phân loại thẻ ngân hàng - Cấu trúc thẻ ngân hàng Hiện nay, hầu hết các loại thẻ đều được làm bằng nhựa cứng với 4 góc tròn, có dạng hình chữ nhật. Thẻ gồm 3 lớp được ép với kỹ thuật công nghệ cao, lõi thẻ được làm bằng nhựa cứng nằm giữa hai lớp nhựa cán mỏng.