Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thực trạng hoạt động của đơn vị đào tạo và đơn vị NCKH trong Trường ĐHKHTN - ĐHQGHN Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm kết hợp hoạt động của đơn vị đào tạo và đơn vị NCKH trong trường ĐHKHTN - ĐHQGHN Các khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục kèm theo 6 z Luận văn cao học Quản lý giáo dục CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Lịch sử phát triển khoa học đã chứng tỏ, giảng dạy đại học và NCKH, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản, là hai chức năng gắn bó mật thiết với nhau của trường đại học. Tại các nước phát triển, NCKH trong các trường đại học là công tác sống còn trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo cũng như nâng cao uy tín đào tạo của từng cơ sở. NCKH tạo ra nguồn cơ sở vật chất to lớn, các trang thiết bị hiện đại cho các phòng thí nghiệm, tạo ra ngân hàng dữ liệu đa dạng, phong phú và cập nhật.
NCKH đem lại những phương hướng phát triển khoa học, dự đoán được xu thế phát triển của thời đại và là kim chỉ nam cho đội ngũ cán bộ giảng dạy và người học tiếp cận những vấn đề có tính thời sự và thực tiễn. Cơ cấu tổ chức của các trường đại học được thiết kế để hỗ trợ công tác nghiên cứu thông qua các trung tâm, viện cũng như các khoa, các phòng thí nghiệm thuộc trường đại học. Ở Việt Nam, từ năm 1956, tất cả các trường đại học ở Miền Bắc được tổ chức theo mô hình Liên Xô, gồm hai loại trường đại học chính: mô hình các đại học tổng hợp bao gồm các ngành khoa học cơ bản và mô hình các trường đại học chuyên ngành kỹ thuật. Các mô hình này dựa trên cơ sở đơn ngành (khoa học cơ bản, xây dựng, kiến trúc, thuỷ lợi .) tương đương với các Faculty, College hay School của các đại học (University) của hệ thống phương Tây hoặc tập hợp một số ngành.
Một đặc điểm khác của mô hình Liên Xô cũng được du nhập vào nước ta là xây dựng một hệ thống lớn các viện nghiên cứu nằm bên ngoài các trường đại học. Mô hình này đã làm hình thành quan niệm: các trường đại học chỉ có nhiệm vụ đào 7 z Luận văn cao học Quản lý giáo dục tạo còn nhiệm vụ NCKH là của các viện nghiên cứu và cản trở việc phối hợp, liên kết giữa đào tạo với NCKH. Để khắc phục tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã khuyến khích các trường đại học thành lập các đơn vị nghiên cứu để phát triển công tác NCKH và gắn kết hoạt động đào tạo với hoạt động NCKH trong trường đại học. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hoạt động giữa đơn vị đào tạo và đơn vị nghiên cứu khoa học trong trường đại học cũng chưa được gắn kết chặt chẽ với nhau.
Các tác giả như Lê Thạc Cán, Vũ Tiến Trinh, Đặng Bá Lãm,. đã có những công trình nghiên cứu để có giải pháp cho thực trạng trên. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ quan tâm đến một số mặt của hoạt động NCKH trong các trường đại học. Gần đây, các luận văn chuyên ngành chính sách KH & CN của các tác giả Trịnh Ngọc Thạch, Phạm Liên Hương, Lê Yên Dung, Phạm Thị Bích Hà,.
cũng đề cập đến vấn đề này nhưng chỉ về mặt các chính sách cho hoạt động KH & CN trong các trường đại học, mô tả nguồn lực nghiên cứu và các kết quả KH & CN đạt được của trường đại học hoặc những đóng góp về mặt KH & CN của trường đại học, vai trò NCKH trong trường đại học với sản xuất, kinh doanh. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào phân tích, đánh giá thực trạng sự kết hợp hoạt động giữa đơn vị đào tạo và đơn vị NCKH trong trường đại học. Trong luận văn này, chúng tôi cố gắng phân tích một cách tương đối toàn diện (nhấn mạnh về mặt cơ cấu bộ máy tổ chức) thực trạng của sự gắn kết đó ở Trường ĐHKHTN thuộc ĐHQGHN và bước đầu đề xuất các biện pháp quản lý nhằm kết hợp hai đơn vị này chặt chẽ hơn. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Chúng tôi bắt đầu công việc nghiên cứu của mình bằng cách tìm hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan tới đề tài, đồng thời là kiến thức công cụ để nghiên cứu việc kết hợp hoạt động của đơn vị đào tạo và đơn vị NCKH trong trường đại học mà lấy đối tượng nghiên cứu cụ thể là Trường ĐHKHTN - ĐHQGHN.
8 z Luận văn cao học Quản lý giáo dục 1. Quản lý và các chức năng quản lý 1. Khái niệm quản lý Theo tác giả Ngô Trung Việt, từ quản lý (management) bắt nguồn từ chữ Latinh "manus" nghĩa là bàn tay. Theo nghĩa gốc, thực hiện quản lý là "nắm vững trong tay", "điều khiển vững tay".
Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ thuật khiến người khác phải làm việc. Tuỳ theo các cách tiếp cận mà ta có các quan điểm khác nhau về quản lý. Thông thường khi đưa ra khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại hình quản lý cụ thể: - F. Fayol (Pháp, 1841 - 1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể thay thế được.
Ông đã nói về nội hàm của khái niệm như sau: "Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra"[1, 59]. Fayol còn chứng minh được rằng khoa học quản lý - "quản lý hành chính", không những cần thiết cho các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan của Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng kể trên. Follet (Mỹ, 1868 - 1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm. Theo Bà: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác"[5, 26].
Barnard (1886 - 1961) quan tâm đến đối tượng quản lý là các cá nhân con người đơn nhất và coi tổ chức như một hệ thống mở tức là nhất mạnh đến mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận với hệ thống, giữa hệ thống với môi trường đặc thù của tổ chức và đối tượng của quản lý không phải là hoạt động của các cá nhân hoặc 9 z Luận văn cao học Quản lý giáo dục bộ phận mà là một hệ thống - tổ chức nhất định. Do vậy, "Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn duy trì hoạt động của tổ chức"[5, 29]. - Peter Drucker quan niệm: "Quản lý là một chức năng xã hội nhằm để phát triển con người và xã hội với những hệ giá trị, nội dung, phương pháp biến đổi không ngừng"[5, 35]. - "Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người, nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức"[5, 46].
- "Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan" [44, 616]. Theo tác giả, quản lý là sự tác động có định hướng của người quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu qủa nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý là một trong những hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạp lại có ý nghĩa trong sự phát triển hay trì trệ của mọi tổ chức. Quản lý đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi con người trong tổ chức, tạo ra niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức.
Hệ thống chức năng quản lý Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong việc duy trì và phát triển một tổ chức, quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. - Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản lý vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai. Chẳng những lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất của tất cả các nhà quản lý ở mọi cấp trong một hệ thống mà các chức năng còn lại của quản lý cũng phải dựa trên nó. Nhờ công tác lập kế hoạch, người lãnh đạo của hệ thống sẽ tổ chức, điều khiển và kiểm tra nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã thông qua trong kế hoạch.
10 z Luận văn cao học Quản lý giáo dục Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt tới các mục tiêu định trước. Vì phương pháp tiếp cận này không tách rời khỏi môi trường, nên việc lập kế hoạch phải xét tới bản chất của môi trường mà các yếu tố quyết định và hành động của việc lập kế hoạch được dự kiến để hoạt động trong đó. Lập kế hoạch là quyết định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm. Nó đòi hỏi người lãnh đạo của tổ chức phải xác định các chiến lược, đường lối một cách có ý thức và đưa ra các quyết định dựa trên sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng.
- Tổ chức Tổ chức là qúa trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra. Đó là sự liên kết giữa các cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra trên cơ sở các nguyên tắc và quy tắc quản lý của hệ thống. Chức năng tổ chức còn là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng. Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản lý.
Cơ cấu tổ chức quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống, mặt khác có tác động tích cực trở lại đến việc phát triển của hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lý.