MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Loài người đã và đang bước vào kỷ nguyên của công nghệ thông tin và truyền thông trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, đồng thời nền kinh tế đang chuyển mình mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức. Công nghệ thông tin và truyền thông có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, vòng đời của mọi công nghệ đều rất ngắn, tri thức tiếp thu được qua mấy năm học ở Đại học lạc hậu rất nhanh.
Như vậy, yêu cầu cấp thiết là trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng cơ bản, đồng thời dạy cách học cho người học, tạo cho họ khả năng, thói quen và niềm say mê học tập suốt đời. Sự thay đổi này đã làm thay đổi không chỉ cách giảng dạy mà còn thay đổi cả việc tổ chức quá trình giáo dục, ứng dụng công nghệ dạy học, phương tiện kỹ thuật trong giảng dạy, do đó, khắc phục được nhược điểm của các phương pháp cũ, nâng cao chất lượng của giáo dục – đào tạo. Chỉ thị số 55/2008/CT-BGD&ĐT Về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 nêu rõ: “Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước… - Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử và giáo án trên máy tính.
Khuyến khích giáo viên, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở giáo dục và qua Diễn đàn giáo dục trên Website Bộ. - Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning). Tổ chức cho giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến; tổ chức các khoá học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học tập cho người học. “ Viện đại học mở Hà Nội trong những năm qua đã quan tâm đến công tác đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, đặc biệt là sự đầu tư về nhân lực, vật 5 z lực và tài lực cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo và trong công tác quản lý giáo dục.
Đến nay Viện đại học mở Hà Nội đã bước đầu triển khai áp dụng E-learning và xây dựng 6 bộ HLĐT cho 6 môn học và tải lên trang Web đào tạo trực tuyến của Viện. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đang gặp phải nhiều vấn đề khó khăn cần có những biện pháp quản lý để khắc phục kịp thời: kiến thức và kỹ năng tin học cơ bản của giảng viên, học viên và sinh viên còn hạn chế; chưa xây dựng được quy trình thiết kế và sử dụng HLĐT. Với những lý do kể trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại Viện đại học mở Hà Nội “. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Viện đại học mở Hà Nội.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu Quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện tại Viện đại học mở Hà Nội. Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất và áp dụng được một số biện pháp khả thi để quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Viện đại học mở Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ sau: 6 z - Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết kế và sử dụng HLĐT và quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. - Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện tại Viện đại học mở Hà Nội. - Đề xuất các biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Viện đại học mở Hà Nội. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Do thời gian có hạn nên đề tài tập trung nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong trong môi trường dạy học đa phương tiện cho học viên hệ đại học từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội.
Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận - Nghiên cứu Luật Giáo dục, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục - đào tạo và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học. - Nghiên cứu các tài liệu, báo cáo khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thống kê - Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia. - Phương pháp thực nghiệm 7. Những phương pháp hỗ trợ khác - Phân tích, xử lý số liệu,. 7 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HLĐT TRONG MÔI TRƢỜNG DẠY HỌC ĐA PHƢƠNG TIỆN 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ở nước ta ứng dụng công nghệ dạy học được đề cập vào những năm 90 và hiện đang tiếp tục được nghiên cứu, ứng dụng trong giảng dạy ở mọi cấp học của hệ thống giáo dục. Đã có một số đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT và TT trong giảng dạy, bước đầu thu được những kết quả hết sức khả quan. Đề cập đến việc phát triển GAĐT tác giả Ngô Quang Sơn có viết :'' Trong hệ thống các loại hình thiết bị dạy học bộ môn hiện nay ở nước ta và các nước khác, giáo án điện tử được coi là một loại hình trong 12 loại hình thiết bị dạy học bộ môn. Giáo án điện tử vừa là giáo án vừa là một loại hình TBDH hiện đại - TBDH có ứng dụng CNTT và TT.
Các giáo viên phổ thông, giảng viên đại học, cao đẳng cần nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng hiệu quả giáo án điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện '' - Năm 2001, sinh viên Trần Thị Thu Hà đã nghiên cứu áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong môi trường CNTT và TT với đề tài: “Bước đầu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học Sketchpad trong dạy học Toán ở Tiểu học. “ - Năm 2002, sinh viên Nguyễn Huyền Trang đã nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học với đề tài: “ Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint thông qua môn Tiếng Việt ở Tiểu học.” - Tiếp tục nghiên cứu theo hướng này, năm 2004, học viên cao học Bùi Thị Hải Yến đã bảo vệ thành công đề tài: “Sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint thông qua phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học. ” - Năm 2006, sinh viên Nguyễn Văn Dũng đã bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành QLGD với đề tài : “ Một số biện pháp quản lý 8 z việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Quỳnh Thắng A” Ứng dụng CNTT và TT vào dạy học ở các nước phát triển trên thế giới là điều không còn mới lạ. Tuy nhiên, ở Việt Nam mới được đề cập và phát triển trong vòng chục năm trở lại đây.
Đặc biệt, công tác quản lý chỉ đạo việc ứng dụng CNTT và TT nói chung; thiết kế và sử dụng GAĐT nói riêng còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng. Hơn nữa, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT.2 Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý.
Khái niệm “quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm. Sau đây là một số định nghĩa về “quản lý ”: - Theo F.Tay lor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” - Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Trong học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra. Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
9 z Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn. Sau khi xem xét phân tích các khái niệm quản lý trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý dưới đây: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của một tổ chức nhằm sử dụng các nguồn lực hợp lý để đạt được các mục đích đã định.