Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS. - Chương 2: Thực trạng dạy học và quản lý hoạt động dạy học tại các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. - Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ 4 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất của con người trong một tổ chức. Quản lý đúng sẽ mang lại những thành công và hiệu quả cao. Nghiên cứu về quản lý sẽ giúp cho chúng ta có những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối với hoạt động quản lý. Đây là vấn đề luôn được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm.
Cho đến nay có rất nhiều tư tưởng và công trình khoa học đề cập đến vấn đề về quản lý. - Từ thời cổ Hy Lạp con người đã biết áp dụng quản lý theo phương thức tập trung và dân chủ. Khái niệm kiểm tra và trách nhiệm đã có từ thời Babilon vào khoảng năm 1750 trước công nguyên với sự đóng góp của các nhà triết học. Trong đó có thể kể đến các nhà triết học như: + Xôcơrát (469 - 339 trước CN) người Hy Lạp đã đề xuất giáo dục phải giúp con người tìm thấy, tự khẳng định chính bản thân mình và giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng định, tự phát hiện tri thức mới mẻ, phù hợp với chân lý.
Tiếp đó là Pơlaton (429 - 347 trước CN) cũng là người Hy Lạp khẳng định được vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối với giáo dục [20]. + Khổng Tử (551 - 479, trước CN) người Trung Quốc đã có quan điểm về phương pháp dạy học là dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen trong học tập và "học không biết chán, dạy không biết mỏi". Tư tưởng đó cho thấy cần coi trọng quy định về nề nếp dạy học và người dạy phải biết đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và tính sáng tạo của người học. 5 z - Từ khoảng nửa đầu thế kỷ XIX đến nửa cuối thể kỷ XX, giai đoạn chủ nghĩa Mác - Lênin xuất hiện và phát triển cùng với kỷ nguyên công nghiệp, khoa học giáo dục thực sự có sự biến đổi về lượng và chất.
Những vấn đề chủ yếu của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã định hướng cho hoạt động giáo dục là các quy luật về sự hình thành cá nhân con người, về tính quy định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục,. Các quy luật đó đặt ra những yêu cầu đối với quản lý giáo dục là tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện thực hiện mục đích giáo dục như: thể chế xã hội, đội ngũ nhân lực giáo dục, nguồn tài lực và vật lực giáo dục và môi trường giáo dục. Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học Xô Viết cũ đã thông qua lý luận dạy học để gián tiếp thể hiện những quan điểm của mình về hiệu quả giáo dục và hiệu quả dạy học. Các quan điểm đó tập trung vào việc phân tích vai trò và tầm quan trọng của những thành tố cấu trúc của quá trình giáo dục tổng thể như chủ thể, khách thể, mục đích, nội dung, phương pháp, lực lượng, phương tiện và đánh giá kết quả; để từ đó rút ra các yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục và dạy học.
- Từ khoảng cuối thế kỷ XX đến nay, khi mà thế giới đang chuyển dần từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, vấn đề hiệu quả giáo dục nói chung và dạy học nói riêng đã được nhiều nhà khoa học thực sự quan tâm. - Ở Việt Nam, trong các triều đại phong kiến cũng đã xuất hiện những tư tưởng quản lý mà chủ yếu là quản lý hành chính, quản lý xã hội. Có thể kể đến các tư tưởng quản lý như: Lý Công Uẩn, Trần Minh Tông, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo,. Lý Công Uẩn nói “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi”.
Với tấm lòng thiết tha với sự nghiệp giáo dục, làm cho thế hệ trẻ Việt Nam được hưởng một nền giáo dục phát triển Bác Hồ còn coi người quản lý 6 z nhà trường như người làm ra hàng. Người căn dặn “. làm ra hàng phải đúng với nhu cầu của người tiêu thụ. Nếu người ta cần nhiều xe mà mình làm ra nhiều bình tích thì hàng ế” [19; 221].
Hiện nay ở trong nước có rất nhiều các nhà khoa học đề cập và nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học. Có thể kể đến các tác giả như: PGS. Đặng Quốc Bảo “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình”, “Một số khái niệm về quản lý giáo dục”, PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí với tác phẩm “Những cơ sở quản lý giáo dục” Hà Thị Đức với tác phẩm: Hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở - NXB Giáo dục năm 2000. Trong những năm gần đây một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề này như: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THCS quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng của tác giả Mai Đức Hưng; Quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng của tác giả Nguyên Văn Sinh;.chưa có ai đề cập đến việc biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Cho nên, vấn đề chúng tôi nghiên cứu ở luận văn này là khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động và công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Thanh Thủy nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học đáp ứng những yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản.1 Khái niệm về quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [31,tr. 7 z Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Cho đến nay, về cơ bản mọi người đều cho rằng: Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn [21,tr. Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm, đã đòi hỏi phải có sự phối hợp hoạt động của các cá nhân để duy trì sự sống và do đó cần sự quản lý. Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội ngày càng tăng lên thì sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ càng tăng lên. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó.Mác đã viết: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [27,tr.Mác đã lột tả được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ có liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến những chưa có một định nghĩa thống nhất, tuỳ theo quan điểm tiếp cận khác nhau mà các tác giải đưa ra các định nghĩa khác nhau.
8 z Theo điều khiển học: Quản lý là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã định. Theo quan điểm của kinh tế học: Quản lý là sự tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, tổ chức,lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định” [23]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [19].
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [29]. Theo tác giả Trần Khánh Đức (đồng chủ biên): “Quản lý là công việc của nhà quản lý nhằm thiết lập và duy trì một khung cảnh nội bộ trong đó con người làm việc chung theo tập thể có thể thực hiện công việc một cách hữu hiệu để đạt được các mục tiêu” [14,tr.