CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với xã hội, đối với mỗi tổ chức nói chung và GD nói riêng, cho nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở nước ngoài về vấn đề này. Các khái niệm “Vốn con người” (Human capital) và “Nguồn lực con người” (Human resources) đã xuất hiện ở Hoa Kỳ bởi nhà kinh tế học người Mỹ - Theodor Schoultz vào những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX.
Từ những năm 1980, nhà xã hội học người Mỹ Leonard Nadle đã đưa ra sơ đồ quản lý nguồn nhân lực, diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ quản lý nguồn nhân lực [24,tr26]. Kết quả nghiên cứu của ông đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng vào việc quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Nhiều công trình nghiên cứu của Henry Mintzberg với những tư tưởng hàng đầu về quản lý; Peter Ferdinand Drucker với những luận điểm lớn về tổ chức và lãnh đạo quản lý, luôn coi nguồn lực do năng lực con người mang lại là vấn đề trọng tâm, người lãnh đạo tìm thấy họ, động viên họ, sử dụng họ, ĐT họ và khi cần thì sàng lọc là trung tâm tất cả những điều mà lý luận phát triển nguồn nhân lực đang bàn đến. Trong cuốn “Đầu tư vào tương lai” (Investing in the Future), xuất bản năm 1990, ông Jacques Hallak - Chuyên gia GD công tác tại Viện Kế hoạch hóa Quốc tế đã nêu lên 5 nguồn “phát năng” cho sự phát triển con người, đó là: giáo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; việc làm; môi trường; tự do chính trị và kinh tế [40].
Năm yếu tố này gắn kết với nhau trong đó GD và ĐT 9 được coi là nhân tố quan trọng nhất, là biện pháp chủ yếu nhất để phát triển nguồn nhân lực. Sự phát triển của GD và ĐT luôn gắn với sự phát triển của nguồn nhân lực, sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực rất nhiều và lý thuyết về quản lý nguồn nhân lực đã được định hình, thống nhất ở một số cách tiếp cận cơ bản. Điểm chung về quản lý nguồn nhân lực chính là quản lý con người trong một tập hợp có tính liên kết nào đó (một tổ chức, một ngành hay một quốc gia) với các đặc trưng cơ bản: ĐT, BD để phát triển cá nhân; tuyển dụng, bố trí, sử dụng; xây dựng, tạo môi trường cho phát triển nguồn nhân lực.
Đó chính là điểm tựa để tác giả triển khai nghiên cứu quản lý đội ngũ CBQL trường THCS theo tiếp cận nguồn nhân lực. Những nghiên cứu ở trong nước 1. Các công trình đề cập về nguồn nhân lực Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta như trong cuốn“Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” của tác giả Trần Khánh Đức (2009); “Phát triển nguồn nhân lực, phát triển con người” của Đặng Quốc Bảo (2009); Tạp chí GD số 233, tháng 3/2010 của tác giả Bùi Việt Phú có bài nghiên cứu về “Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để tham gia nền kinh tế tri thức”; trong Tạp chí GD số 256, tháng 2/2011 của tác giả Nguyễn Ngọc Phú nghiên cứu về “Quan điểm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực và nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội ở nước ta hiện nay” hay trong Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 193, tháng 7/2013 của tác giả Ngô Quỳnh An có bài nghiên cứu trao đổi về “Cách tiếp cận nguồn nhân lực trong tổ chức”v. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau về nguồn nhân lực nhưng nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển Kinh tế - Xã hội; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội 10 dung phát triển nguồn nhân lực và đề xuất các giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta.
Các công trình đề cập về quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở Những năm gần đây, vấn đề quản lý và phát triển đội ngũ CBQL trường THCS đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả. Trong đó, có một số luận văn, luận án tiến sĩ chuyên ngành giáo dục học đã nghiên cứu về đội ngũ CBQL trường THCS như: + “Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THCS thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Đại học Quy Nhơn, 2008. + “Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THCS huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Đặng Quốc Dũng, Đại học Quy Nhơn, 2011. + “Phát triển đội ngũ CBQL trường THCS huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015 - 2020”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Hướng, Đại học Giáo dục, 2016.
+ “Phát triển đội ngũ CBQL trường THCS huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Trường Đại học Quy Nhơn, 2016. + “Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Khánh Tuấn, Đại học sư phạm Hà Nội, 2005. + “Phát triển đội ngũ CBQL trường THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới GD phổ thông”, Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thế Lưu, Trường Đại học Vinh, 2015. Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy nổi bật lên một số vấn đề như sau: Các nhà nghiên cứu đều khẳng định CBQLGD nói chung, CBQL trường 11 THCS nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng, quyết định chất lượng GD và hiệu quả hoạt động của nhà trường THCS.
Họ cũng đã khẳng định phát triển đội ngũ CBQL nhà trường là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Công tác phát triển đội ngũ CBQLGD với tư cách là nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm, nhất là trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐT. Các nhà nghiên cứu, nhà quản lý đã đưa ra những mặt lý luận khá đầy đủ và có tính hệ thống; về mặt thực tiễn đã có những nghiên cứu sâu, đề xuất một số giải pháp để phát triển đội ngũ CBQL trường THCS ở một số địa phương. Đây là cơ sở để tác giả tham khảo và vận dụng cho nghiên cứu trong đề tài.
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THCS ở một số địa phương. Các nghiên cứu đều tập trung vào việc phát triển đội ngũ - là một trong những nội dung của công tác quản lý đội ngũ. Song, ở địa bàn thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu về công tác quản lý đội ngũ CBQL trường THCS theo tiếp cận nguồn nhân lực. Việc khai thác tổng hợp sơ đồ quản lý nguồn nhân lực và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, nhưng đồng bộ hóa hệ thống giải pháp quản lý đội ngũ CBQL trường THCS ở thị xã Sông Cầu còn bỏ ngỏ.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ CBQL ở các trường THCS thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [30]. Theo nhà khoa học người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), người được hậu thế coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học", đã thể hiện tư 12 tưởng cốt lõi của mình trong quản lý : “Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển” [18, tr.
Còn Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weirich lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động mỗi cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [20,tr. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì:“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [13, tr. Qua các khái niệm trên, có thể hiểu khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch, sắp xếp tổ chức, phân phối nguồn lực, chỉ đạo, điều hành và kiểm soát, đánh giá… nhằm vận hành tổ chức một cách hiệu quả nhất để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong GD nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể GV, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu GD. Có thể mô tả bản chất của hoạt động quản lý qua sơ đồ sau: Công cụ quản lý Môi trường quản lý Chủ thể Đối tượng Mục tiêu quản lý quản lý quản lý Phương pháp quản lý Sơ đồ 1. Bản chất của hoạt động quản lý 13 Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Đối tượng quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau; là các nhiệm vụ cần giải quyết để tổ chức thực hiện sứ mạng của mình. Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, chính sách… Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý.