Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ.1 Khái niệm về quản lý đào tạo. Theo cuốn Đại Từ điển tiếng Việt “Đào tạo” là: “Dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp” [11, tr 593]. “Đào tạo” là một trong những mặt hoạt động cơ bản của quá trình giáo dục, nó có phạm vi, cấp độ, cấu trúc, những hạn định cụ thể về thời gian, nội dung và tính chất… Có thể nói, đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… nhằm hoàn thiện nhân cách cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề với năng suất và hiệu quả. Tùy theo mỗi cấp học, bậc học mà mục tiêu đào tạo phải lựa chọn một chương trình đào tạo, nội dung phù hợp và thời gian đào tạo tương ứng.
Thông thường, hoạt động đào tạo là một quá trình trang bị những kiến thức cơ bản mới hoặc một trình độ cao hơn nên thời gian đào tạo thường ít nhất từ một năm trở lên. Cuối khóa đào tạo, nếu người học đáp ứng được những yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp. Về cơ bản, đào tạo là hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với việc giáo dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (gọi là trình độ học vấn) của một con người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất, tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định.
Chỉ khi nào quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo thì việc đào tạo mới có chất lượng, hiệu quả cao. Do vậy, chất lượng đào tạo được hiểu là mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương trình đào tạo. Nó cũng được xem là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách, giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình cụ thể. [1, tr 258] 6 z Khác với “Đào tạo”, “Bồi dưỡng” là quá trình bổ sung, cập nhật, củng cố kiến thức hoặc tăng thêm kiến thức mới cho người học; là quá trình làm cho người ta tăng thêm tri thức, năng lực, kỹ năng làm phát triển phẩm chất.
Bồi dưỡng là công việc thường được tiến hành sau đào tạo nhằm bổ sung thêm kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ trong quá trình làm việc trên nền tảng của tri thức đã được đào tạo. “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ” [1, tr 739]. Tuy nhiên, hoạt động bồi dưỡng chỉ với mục đích bổ sung kiến thức hoặc cập nhật những vấn đề mới liên quan đến hoạt động của cán bộ, công chức nên thời gian thường ngắn hơn từ một tuần đến ba tháng. Có nơi, có lúc, người ta còn dùng thuật ngữ bồi dưỡng dưới cái tên “tái đào tạo” hoặc “đào tạo lại” [1, tr 239].
Khác với “đào tạo”, kết thúc “bồi dưỡng”, người học đủ điều kiện được nhận chứng chỉ công nhận kết quả đã cập nhật kiến thức mới. Như vậy, mặc dù là hai quá trình khác nhau nhưng hoạt động đào tạo và bồi dưỡng đều có chung mục đích là nhằm cung cấp kiến thức cho người cán bộ công chức để tăng cường năng lực, hiệu quả công tác. Hoạt động đào tạo làm cho người cán bộ công chức trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, còn hoạt động bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực, phẩm chất của cán bộ công chức Đào tạo con người, đào tạo cán bộ là một loại hoạt động chuyên biệt trong xã hội. Từ góc độ giáo dục học, đào tạo con người được hiểu là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp khoa học đến tâm lý, nhân cách con người nhằm giáo dục, rèn luyện những phẩm chất, nhân cách, đảm bảo cho con người có khả năng thực hiện có hiệu quả những hoạt động nghề nghiệp nhất định.
Quá trình giáo dục con người và đào tạo con người là thống nhất, có quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Hai quá trình này đều có chung mục đích là hình thành và phát triển nhân cách con người, nâng 7 z cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vi, làm cho con người tích cực hơn, tốt đẹp hơn, có ích hơn cho gia đình và xã hội. Bản chất của quá trình đào tạo là sự phối hợp các hoạt động của cán bộ, giảng viên, học viên nhằm phát triển nhân cách do nhà trường tổ chức, chỉ đạo và thực hiện. Đối tượng của quá trình đào tạo là nhân cách của người học trong cơ sở đào tạo nói chung và nhân cách của từng cá nhân người học được phát triển theo mục tiêu đề ra.
Quá trình đào tạo phải cùng một lúc thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản là dạy người; dạy nghề và dạy phương pháp. Tương ứng với ba mục tiêu là: thái độ; kiến thức-kỹ năng; phương pháp. Các chức năng đó được thực hiện với mức độ nhiều ít khác nhau tùy theo nội dung, tính chất của từng giai đoạn trọng quá trình đào tạo nhưng bao giờ cũng phải có và cần được quản lý, tổ chức thực hiện để đảm bảo nâng cao chất lượng của quá trình đào tạo. Do đó, quản lý quá trình đào tạo là bộ phận chủ yếu trong toàn bộ công tác quản lý của cơ sở đào tạo.
Quản lý quá trình đào tạo đòi hỏi các nhà quản lý nói chung và các giảng viên nói riêng phải có sự hiểu biết đúng, đầy đủ các vấn đề của quá trình đào tạo cũng như các mối quan hệ cơ bản của quá trình đào tạo trong sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan tác động lên quá trình đó. Trên thực tế, quản lý quá trình đào tạo có nhiều cấp độ khác nhau. Nhưng điều dễ nhận thấy nhất là ở hai cấp độ: vi mô và vĩ mô. Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống.
Trong hệ thống này có nhiều hệ thống nhỏ, tương ứng với hệ thống nhỏ này là các hoạt động quản lý vi mô. Tuy nhiên, sự phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối. Cho nên, khi xem xét một vấn đề quản lý, phải xác định chủ thể quản lý đang ở cấp độ nào. Từ đó mới thấy được mối tương quan trên dưới vĩ mô và vi mô.
Quản lý đào tạo dù là ở cấp vĩ mô hay cấp vi mô đều là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến các đối tượng của hệ thống nhằm 8 z làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục và đạt được mục tiêu của giáo dục - đào tạo. Mục tiêu của quản lý quá trình đào tạo là chất lượng đào tạo toàn diện người học với các tiêu chuẩn về đạo đức, tư tưởng, lối sống, kỹ năng, kỹ sảo … Chất lượng đó là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động của quá trình đào tạo và các hoạt động đảm bảo cho quá trình đó. Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung đào tạo được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo của cơ sở đào tạo. Công cụ chủ yếu của công tác quản lý việc thực hiện mục tiêu, nôi dung đào tạo chính là chương trình khung, chương trình chi tiết môn học, giáo trình, sách giáo khoa … và hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành khác.
Nội dung của quản lý đào tạo được xác định bao gồm: quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo; quản lý người dạy, người học; quản lý công tác tổ chức đào tạo; quản lý chất lượng và hiệu quả đào tạo; quản lý các hoạt động bổ trợ cho công tác đào tạo. Thông thường, các nhà quản lý thực hiện quản lý việc lập kế hoạch đào tạo; quản lý quá trình tổ chức giảng dạy, học tập; quản lý các hoạt động đảm bảo điều kiện nhân lực (con người), vật lực (CSVC, trang thiết bị), tài lực (tài chính, ngân sách) cho hoạt động đào tạo; quản lý công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động đào tạo và đặc biệt là quản lý chất lượng đào tạo (kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo). Quản lý đào tạo có các chức năng, các hoạt động khác nhau của hoạt động quản lý. Thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.
Do đó, quản lý đào tạo được xem xét, đánh giá ở nhiều góc độ: quản lý theo chức năng, quản lý theo mục tiêu … Trước hết, dưới góc độ quản lý theo chức năng. Quản lý nói chung và quản lý đào tạo nói riêng có các chức năng chính sau: Kế hoạch hóa (Planning); Tổ chức (organizing); Chỉ đạo – Lãnh đạo (Leading); Kiểm tra (Controlling). 9 z Chức năng Kế hoạch hóa. (Planning) Kế hoạch hóa là khâu cơ bản nhất trong quản lý đào tạo.
Nó là cơ sở để có thể chỉ đạo và kiểm tra toàn bộ hoạt động của quy trình đào tạo. Trong quản lý đào tạo, nếu không có kế hoạch thì không thể chỉ đạo và kiểm tra. Chỉ đạo và kiểm tra có nghĩa là giữ cho hoạt động đào tạo theo đúng tiến trình và điều chỉnh các sai lệch so với kế hoạch. Có thể nói, quản lý đào tạo thực chất là quá trình quản lý mục tiêu, và quy trình đào tạo đã được cụ thể hóa thành kế hoạch cho từng khoảng thời gian.
Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, công tác quản lý đào tạo phải làm tốt công tác kế hoạch. Kế hoạch hóa trong quản lý đào tạo về bản chất là xây dựng chương trình hành động của cơ sở đào tạo theo năm học, nhằm đảm bảo thực hiện chất lượng đào tạo. Chương trình hành động này bao gồm các chi tiết: mục tiêu, nội dung công tác, thời gian, biện pháp thực hiện và phân công người chịu trách nhiệm chính cũng như dự kiến sản phẩm. Việc soạn thảo chương trình, kế hoạch hành động dựa vào mục tiêu đào tạo xã hội, dựa trên tiềm lực của nhà trường phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của địa phương nơi cơ sở đào tạo đang đóng.