CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tín dụng là một phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng: tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng,…Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia. Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song cũng mang rủi ro cao nhất cho NHTM. Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Mặt khác, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng.
Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, tín dụng như là một tổ chức cấp vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không được cung cấp kịp thời, nơi thì để vốn ứ đọng trong thời gian dài.Từ khi chuyển qua nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Sau đây là vai trò tín dụng của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường: 1. Cung cấp vốn cho nền kinh tế Hoạt động tín dụng là cầu nối cung và cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân. Hoạt động chính của NHTM là hoạt động tín dụng, đem lại 70 – 80% thu nhập cho NH.
Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư. 3 Như vậy tín dụng NH là cánh tay đắc lực của NHTM, góp phần nâng cao chất lượng và điều hòa về tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo môi trường kinh doanh ổn định. Đẩy mạnh quá trình sản xuất, mở rộng đầu tư Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và bị đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển, các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như nguồn nhân lực, công nghệ, vốn,… Trong đó, có thể khẳng định vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu vì nếu có vốn mạnh, doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung cấp.
Để có vốn doanh nghiệp có thể tìm đến nhiều nguồn hỗ trợ khác nhau, nhưng vay vốn ở NH là hình thức được các DN sử dụng nhiều nhất vì được vay linh hoạt và lãi suất thấp.Vì vậy, thông qua hoạt động tín dụng NH đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, đồng thời giải quyết các vấn đề về xã hội. Điều hòa, lưu thông tiền tệ Nền kinh tế thị trường lúc nào cũng có những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ sung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng NH được coi như một giải pháp để giải quyết mâu thuẫn này.Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, NH đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế. Công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển Hoạt động chủ yếu của NH là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cần vốn.Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà việc đó được thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng.Quá trình này rất quan trọng với các NH, thậm chí mang tính sống còn của một NH.
Vì vậy các NH đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các NHTM cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt được mục tiêu phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi để phát huy vai trò, thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính 4 sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
Rủi ro tín dụng gắn liền với các hình thức tín dụng, do đó, nó không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính,… 1. Các loại rủi ro tín dụng 1. Rủi ro về vốn Là rủi ro không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng NH là ứng trước tiền cho khách hàng, sau một chu kỳ sản xuất hoặc luân chuyển hàng hóa thì KH mới có tiền trả nợ NH.
Nội dung ứng trước của tín dụng NH càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. NH cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản đảm bảo. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản.Trong hoạt động kinh doanh NH, rủi ro thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của NH là các món vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho NH, do đó nếu các khoản vay của NH không được hoàn trả, NH sẽ mất cả vốn lẫn lãi.
Số tiền thiệt hại này nếu vượt quá vốn tự có của NH sẽ khiến NH lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. Rủi ro sai hẹn Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thể trả cho NH.Thông thường trường hợp này khách hàng có thể xin NH gia hạn thêm thời gian để trả nợ. Nếu lý do của KH không được NH chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thanh toán chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của NH và tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.
Rủi ro lãi suất Quá trình chuyển hóa tài sản của NH bao gồm việc huy động vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm NH phải chịu rủi ro về lãi suất. Giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trường lên thì mức chiết khấu giá trị của tài sản cũng tăng lên, vậy giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống và ngược lại.
Vì vậy nếu kì hạn hai loại tài sản này không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ thì khi lãi xuất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ. Rủi ro tỷ giá Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của nền kinh tế và chính trị của một nước. Ví dụ: Một NH Mỹ cấp tín dụng bằng đồng bảng cho một công ty Anh.
Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đô la Mỹ thì cả gốc và lãi khi chuyển qua đô la Mỹ có thể nhỏ hơn so với số gốc đầu tư ban đầu, từ đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Vậy khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bảng Anh sang đô la Mỹ thì số tiền thu được chưa đủ bù đắp rủi ro hối đoái. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xảy ra khi nhu cầu thanh toán, chi trả của NH phát sinh ngoài dự tính. Biểu hiện của rủi ro thanh khoản được thể hiện trong các trường hợp: Chi phí của NH gia tăng khi phải vay bổ sung nguồn vốn hoặc bán tài sản, hoặc NH gặp phải một thiệt hại lớn hay nhu cầu rút tiền tại một thời điểm quá lớn.
Tất cả những điều này đều có thể dẫn NH đến nguy cơ phá sản. Rủi ro lạm phát Là loại rủi ro xuất hiện khi vật giá leo thang trong cùng một thời điểm. Giá nhà, giá xăng, giá thực phẩm, đồ dùng cùng nhau tăng cao trong khi những khoản thu cơ bản của người dân như tiền lương không tăng hoặc tăng rất ít. Điều này dẫn đến đồng tiền 6 không còn đủ giá trị để chi trả cho những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày nữa.Thêm vào đó, đồng nội tệ mất giá hoặc yếu đi so với các đồng tiền khác.
Như chúng ta đã thấy những hậu quả mà lạm phát gây ra ở Zimbabwe, giá trị đồng tiền xuống thấp đến mức tận cùng. Ví dụ như tại thời điểm năm 2009, giá một ổ bánh mì ở đây là 300 tỷ đô (đơn vị tiền tệ của Zimbabwe), còn để mua một quả trứng gà, người mua sẽ phải đẩy một xe tiền tương ứng gần 500 tỷ đô tới trả. Lạm phát sẽ làm phát sinh những rủi ro trong tín dụng. KH không có khả năng hoàn trả nợ cho NH khi số tiền họ vay bị mất giá và việc sản xuất kinh doanh không thể tiếp tục khi mọi mặt hàng đều tăng giá mà người dân thì không có khả năng chi trả.
Rủi ro thị trường Đây là rủi ro thường xuyên xảy ra khi một mặt hàng nào đó bị “đóng băng” trên thị trường, nghĩa là không có kẻ bán, người mua, mà thường thì không có người mua. Tiêu biểu của rủi ro này hay xảy ra với thị trường bất động sản. Nếu như một cá nhân vay vốn để đầu tư bất động sản.Dự kiến trong 5 – 10 năm sẽ trả hết lãi và gốc cho NH.