Đặt vấn đề Hiện nay, ngành chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. Chăn nuôi hiện nay với nhiều hình thức đa dạng và phong phú đang là một hướng đi mới góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người nông dân, giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nhiều nơi, tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng và có giá trị kinh tế để xuất khẩu, có khả năng cạnh tranh trên thị trường với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chăn nuôi còn là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt, nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến. Hiện nay, phân lợn còn được dùng làm nhiên liệu để sản xuất khí đốt (biogas) vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao vừa có tác dụng giảm ô nhiễm môi trường.
Ngành chăn nuôi lợn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chăn nuôi, so với các loài gia súc khác lợn vẫn là đối tượng được người dân chăn nuôi nhiều nhất và sản phẩm thịt lợn được nhiều người tiêu dùng trong nước cũng như thế giới ưa chuộng (ở nước ta thịt lợn được dùng làm thực phẩm chiếm đến 75%). Chăn nuôi lợn là một trong ba ngành chăn nuôi quan trọng nhất của nước ta là: chăn nuôi lợn; chăn nuôi trâu, bò và chăn nuôi gia cầm. Xác định được vai trò quan trọng của chăn nuôi lợn trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, để ngành chăn nuôi phát triển bền vững thì ngoài việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn… còn phải quan tâm nhiều hơn đến công tác thú y, đặc biệt trong xu hướng chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi. Đây chính là vấn đề khó khăn lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và n 2 ngành chăn nuôi lợn nói riêng trong công tác phòng trừ và điều trị bệnh ký sinh trùng. Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn. Song bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mãn tính, làm lợn sinh trưởng và phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn tăng và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng cũng tăng.
Ngoài ra ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập gây bệnh (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [28]). Một đại diện tiêu biểu của các loài ký sinh trùng gây bệnh cho vật nuôi là loài giun tròn Trichocephalus spp. Ký sinh ở đường tiêu hóa lợn. Bệnh giun tóc đã gây nhiều trở ngại cho ngành chăn nuôi lợn, làm cho lợn gầy yếu, sức đề kháng giảm, làm cho lợn bị mắc một số bệnh kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào qua các vết loét ở ruột như hội chứng tiêu chảy ở lợn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006) [13].
Lợn sinh trưởng chậm và làm giảm hiệu quả, năng suất chăn nuôi. Ở một số tỉnh phía Bắc như Thái Nguyên người dân chủ yếu làm nghề nông nghiệp, chăn nuôi lợn chiến một vị trí quan trọng trong cơ cấu vật nuôi và là một trong các nguồn thu nhập chính cho người nông dân. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về bệnh do Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên, vì vậy vẫn chưa có quy trình phòng chống bệnh hiệu quả.
Do đó, để góp phần vào công tác phòng trừ, khống chế dịch bệnh, tăng sức đề kháng nâng cao năng xuất chăn nuôi lợn cho người nông dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng và chữa bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp. - Đề xuất quy trình phòng bệnh giun Trichocephalus spp.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh và quy trình phòng chống bệnh giun Trichocephalus spp.cho lợn, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của giun T. Vị trí của giun T.
suis trong hệ thống phân loại động vật học Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] vị trí của giun tròn Trichocephalus suis (T. suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidae Baird, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T. suis lợn Theo Đỗ Dương Thái và cs (1975) [24], màu sắc trứng giun T.
suis là một màu ổn định, thay đổi ít từ màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm. Hình dạng trứng giun T. suis không bất thường đáng kể nhưng chiều ngang của trứng có thể thay đổi chút ít, có những chiều ngang rộng hẹp khác nhau. suis có chu kỳ phát triển chậm, vì vậy hình dạng nhân bên trong ít có những thay đổi.
Nhân bên trong thường thành một khối chưa phân chia. suis có hình thái cấu tạo như sau: Con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm. Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1mm (12 - 19 mm). Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68: 1.
Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ. Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữ phần mỏng và dày của thân. Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ n 5 chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân dạng móc xích.
Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân. Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn.
Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm. Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm. Có bao gai bọc xung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ.
Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm. Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân.
Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; chiều rộng là 0,290 - 0,352 mm. Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm. Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm). Như vậy tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04 : 1.
Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ. Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm). Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µ m). Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng.
Đuôi con cái tù. Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm. Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo.
Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ. Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi. Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm.
Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng. Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm. n 6 Trứng của giun T.
suis có hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm. Hai cực có hai nút trong, vỏ dày gồm 2 lớp. Giun Trichocephalus suis a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực (Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [ ] Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18]: Giun T. suis có màu trắng đục.
Thân chia ra làm hai phần rõ rệt: Phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc; phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực đuôi hơi tù, cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài phần cuối của giun. Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Hình thể của giun giống như một sợi tóc màu trắng.
Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt.