CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ PHẦN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về Ngân hàng thương mại. Ví dụ như ở Mỹ, ngân hàng thương mại được hiểu là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính; Ở Pháp, ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính; Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.
Theo khoản 1, điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2004 có nêu: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan khác. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác”. [ 21] Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích nội dung của các định nghĩa đó đều có chung một tính chất. Ta có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về Ngân hàng thương mại như sau: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các hoạt động chủ yếu là huy động vốn, cho vay, đầu tư và các hoạt động dịch vụ nhằm một trong các mục tiêu quan trọng là tối đa hóa lợi nhuận.
Khái quát về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng (bên cho vay) với một bên là các doanh 5 nghiệp, tổ chức, cá nhân trong xã hội (bên đi vay), trong đó ngân hàng chuyển giao một lượng tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Đối với hầu hết khách hàng bao gồm cả doanh nghiệp và cá nhân thì ngân hàng là một trong những nguồn vốn linh hoạt nhất. Cho vay là chức năng kinh tế lâu đời nhất của ngân hàng, là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho mỗi ngân hàng song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất. Các hình thức cho vay của NHTM 1.
Theo thời gian - Cho vay ngắn hạn: “là loại cho vay có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân”. [ 24, tr 347] - Cho vay trung hạn: “ có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh”. [ 24, tr 348] - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Các khoản vay dài hạn được dùng đáp ứng các nhu cầu mang tính chất dài hạn như: xây dựng nhà xưởng, xí nghiệp, mua sắm các trang thiết bị.
Theo tài sản bảo đảm Thông thường các khoản vay tại ngân hàng đều phải được đảm bảo bằng tài sản. Việc đảm bảo bằng tải sản để xử lý những rủi ro nếu khách hàng vay tiền không có khả năng trả tiền, Ngân hàng sẽ sử dụng tài sản đảm bảo để trả nợ thay. - Cho vay có tài sản bảo đảm: đây là hình thức cho vay có đảm bảo đối với tài sản có thể được đảm bảo theo hình thức thế chấp hoặc cầm cố. Các tài sản đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hóa trong kho, nhà cửa, thiết bị….
6 Ngân hàng chỉ chấp nhận những tài sản hợp pháp, có khả năng bán được làm đảm bảo. Có thể cho vay đảm bảo bằng tài sản thế chấp của bên thứ 3. - Cho vay không có tài sản bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba mà chỉ dựa vào tín chấp 1. Theo đối tượng - Cho vay doanh nghiệp thường để tài trợ vốn cho các hoạt động kinh doanh hàng ngày, bổ sung vốn lưu động, tài trợ thương mại, đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh, sản xuất, mua sắm tài sản lâu bền, đầu tư dự án mới.
- Cho vay cá nhân, hộ gia đình thường để tài trợ cho mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng, trong đó, cho vay tiêu dùng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn và với nhiều sản phẩm tín dụng hơn do nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng trưởng nhanh và đa dạng. Theo phương pháp hoàn trả - Cho vay có thời hạn cụ thể: là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể và được xác định trong hợp đồng. - Cho vay không có kỳ hạn cụ thể: là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu cầu người vay hoặc người vay tự nguyện trả nợ bất kỳ thời điểm nào. Thời điểm trả nợ phải được báo trước một thời gian hợp lý và thời gian này có thể được qui định trong hợp đồng.
Theo các hình thức khác - Phân loại theo mục đích vay: cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư dài hạn, cho vay bổ sung vốn kinh doanh, tài trợ thương mại… - Phân loại theo ngành nghề kinh tế: cho vay trong các ngành thương mại, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… 1. Cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại. Nguyên nhân hình thành hoạt động cho vay tiêu dùng Xuất phát điểm của nhu cầu từ đơn giản như được ăn, mặc, học hành đến những nhu cầu phức tạp hơn như du lịch, vui chơi giải trí, nhu cầu được 7 tôn trọng… Tuy nhiên, để nhu cầu được đáp ứng đúng lúc, đúng thời điểm không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện được bởi nó còn phụ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng đó là khả năng thanh toán Nắm được vấn đề này, rất cần đến tổ chức thứ ba hỗ trợ cả người mua và người bán để họ đảm bảo khả năng thanh toán và đảm bảo nhu cầu tiêu dùng thực sự của họ. Tổ chức thứ ba đảm nhiệm tốt nhiệm vụ này chính là các Ngân hàng thương mại.
Do vậy, sự ra đời của cho vay tiêu dùng là hết sức cần thiết. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân, hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định với những thỏa thuận mà hai bên ký kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất…) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, đáp ứng tốt nhu cầu chi tiêu của họ. Những khoản cho vay như vậy được dành cho các mục đích tiêu dùng khác nhau như: mua nhà, xây sửa nhà, mua xe ô tô, xe máy, mua sắm đồ dùng cho cá nhân, gia đình, trang trải các dịch vụ y tế, giáo dục, du lịch… Trước đây, các ngân hàng thường không thực sự quan tâm nhiều đến mảng cho vay tiêu dùng vì “ họ cho rằng các khoản vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ, chi phí cho khoản vay là tương đối lớn, độ rủi ro cao”. [ 14, tr 14] Ngày nay, cho vay tiêu dùng trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các quốc gia phát triển trong khi ở các quốc gia đang phát triển thì mảng thị trường này vẫn còn ở mức tiềm năng.
Đặc điểm của cho vay tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung như sau: - Khách hàng vay là cá nhân, hộ gia đình. Mỗi khách hàng vay có mức thu nhập, nhu cầu và tập quán tiêu dùng là khác nhau. Với những người có mức thu nhập cao, có am hiểu về thị trường 8 thường họ có nhu cầu vay nhiều đáp ứng những nhu cầu tương đối cao như: mua nhà, mua sắm những đồ dùng cao cấp, có giá trị lớn, hưởng thụ cuộc sống cao như đi du lich… họ chủ động trong việc vay ngân hàng và quản lý khoản vay trên cơ sở thu nhập của mình.
Những người có thu nhập không cao thì thường họ có nhu cầu vay giá trị thấp và chủ yếu đề phục vụ nhu cầu mua sắm các đồ dùng không có giá trị lớn như: sửa chữa nhà cửa, xe máy, tivi, tủ lạnh…,bù đắp những thiếu hụt tài chính tạm thời của cá nhân hoặc gia đình. - Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng, thâm hụt tài chính tạm thời của cá nhân hoặc hộ gia đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Khi nền kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng cao thì nhu cầu vay tiêu dùng càng cao. Tủy thuộc vào văn hóa tiêu dùng của các nước khác nhau thì nhu cầu tiêu dùng cũng khác nhau.
- Quy mô khoản vay: thông thường khoản vay có giá trị nhỏ, ngoại trừ một số khoản vay mua bất động sản có giá trị tương đối lớn. Khách hàng vay chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình nên số lượng khoản vay là tương đối lớn đòi hỏi việc quản lý khoản vay phải khoa học. - Thời hạn vay: thường là khoản vay trung hoặc dài hạn với thời hạn từ 1 năm đến 20 năm tùy thuộc vào mục đích vay, giá trị khoản vay và khả năng trả nợ của khách hàng. - Nguồn trả nợ: nguồn trả nợ các khoản vay tiêu dùng thường từ thu nhập đều đặn của các cá nhân, hộ gia đình như tiền lương, tiền công, thu nhập từ hoạt động kinh doanh cá nhân và của hộ kinh doanh… - Chi phí: Ngân hàng thường phải bỏ ra nhiều chi phí cho công tác thẩm định và xét duyệt hồ sơ do thông tin của khách hàng khó có thu thập và không đầy đủ.
Vay tiêu dùng thường có số lượng lớn nên ngân hàng cũng phải chi ra khoản chi phí đáng kể để quản lý hồ sơ khách hàng.