CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN 1. Những vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam Tại Mục I, Chương VII Bộ luật TTHS năm 2015 quy định rõ các BPNC, gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Khoản 1, Điều 109 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định căn cứ áp dụng các BPNC như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh” [7,tr.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế TTHS rất nghiêm khắc, đòi hỏi có sự phân định rõ ràng về chủ thể áp dụng, thẩm quyền áp dụng, về đối tượng bị áp dụng, về căn cứ và mục đích áp dụng để từ mới có một cách nhận thức đầy đủ, thấu đáo và vận dụng đúng đắn vấn đề vào thực tiễn. Ngoài ra, còn có một số quan niệm khác nữa về BPNC của các nhà khoa học nghiên cứu pháp luật, những người làm công tác thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm được công bố trong các giáo trình luật TTHS Việt Nam, sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành luật học. Các quan điểm đó dựa trên cơ sở phân tích lý luận quy phạm pháp luật tại điều 61 Bộ luật TTHS năm 1988 sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992, 2000, Điều 79 Bộ luật TTHS năm 2003 và Điều 109 Bộ luật TTHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng BPNC trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. 7 Tổng hợp từ những quy định của Bộ luật TTHS và một số khái niệm trên, qua phân tích có thể đưa ra khái niệm như sau: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án”.
Vai trò, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Tội phạm là hành vi nguy hiểm nhất trong tất cả các loại hành vi vi phạm pháp luật. Tính nguy hiểm của tội phạm là xâm phạm trực tiếp vào các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, gây nên những thiệt hại cho xã hội ở mức đáng kể. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật, nên nhiệm vụ này luôn được tiến hành thường xuyên, liên tục, chủ động, khôn khéo áp dụng các biện pháp khác nhau để từng bước loại trừ chúng ra khỏi cuộc sống xã hội. Do người thực hiện hành vi phạm tội nói chung luôn tìm mọi cách, đối phó, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật nên áp dụng các BPNC trong quá trình giải quyết VAHS là cần thiết, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Vì vậy, vai trò, ý nghĩa của việc áp dụng BPNC trong TTHS là rất đặc biệt, bao hàm những lý do sau: Thứ nhất, nhằm loại bỏ những trở ngại trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của TTHS như không cho tội phạm cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; đảm bảo việc thi hành án đối với người phạm tội, buộc họ phải chịu hình phạt của pháp luật. Sẽ trở nên vô nghĩa nếu trải qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử mà vẫn bỏ lọt người phạm tội, không xử lý được hành vi phạm tội của họ theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Điều 18 Bộ luật TTHS hiện hành đã đưa ra yêu cầu là: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để 8 xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội”. Thứ hai, việc áp dụng BPNC tước bỏ những khả năng, điều kiện thuận lợi, không cho phép người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, gây nên những hậu quả nguy hại cho xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, quyền lợi của nhà nước, xã hội.
Thực tiễn đã chứng minh nếu không áp dụng BPNC đối với những người đủ căn cứ và buộc phải áp dụng thì họ sẽ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội gây nguy hại cho xã hội. Thứ ba, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn góp phần tăng cường tính pháp quyền và củng cố trật tự, quyền uy pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền, đòi hỏi mọi công dân phải nắm vững và tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra muốn xây dựng nhà nước pháp quyền thì cần quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật sâu rộng đến công dân để họ biết, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được điều này thì việc áp dụng các BPNC trong TTHS cũng là một trong những nhân tố quan trọng. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn Bộ luật TTHS hiện hành không trực tiếp quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn mà chỉ quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung, cụ thể tại Điều 109 quy định, gồm các căn cứ sau: - Thứ nhất, để kịp thời ngăn chặn tội phạm Để kịp thời ngăn chặn tội phạm có nghĩa là không để cho hậu quả của tội phạm xảy ra hoặc tiếp tục xảy ra. Chính vì vậy, để kịp thời ngăn chặn tội phạm thì CQĐT phải thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm sắp xảy ra hoặc đang xảy ra, phải kịp thời ngăn chặn. Tội phạm sắp xảy ra là tội phạm chưa được bắt đầu thực hiện, tội phạm đó mới chỉ ở giai đoạn chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện một trong các tội phạm được quy định tại Điều 14 của Bộ luật hình sự hiện hành thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
9 Như vậy, một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm không thuộc các điều trên hoặc người thực hiện tội phạm, mà tội phạm đó đã ở giai đoạn kết thúc thì không áp dụng BPNC thuộc căn cứ này. Tội phạm đang xảy ra là tội phạm đã được bắt đầu thực hiện nhưng chưa kết thúc. Tội phạm này đang xảy ra hoặc đang tiếp diễn, người phạm tội đang thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đang gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Vì vậy phải áp dụng BPNC để ngăn chặn tội phạm.
Đối tượng bị áp dụng, thường là những người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc người bị bắt do phạm tội quả tang. - Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Căn cứ, được hiểu là những tài liệu có thật, những tài liệu đó phải tồn tại khách quan; thu thập đúng nguồn, căn cứ là chứng cứ của vụ án, có đủ ba thuộc tính: khách quan; liên quan; hợp pháp. Bộ luật TTHS hiện hành đã cụ thể hơn căn cứ cản trở điều tra, truy tố, xét xử đối với người bị buộc tội bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm bằng các căn cứ cụ thể, theo đó, việc tạm giam chỉ có thể được áp dụng khi thuộc một trong năm trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 119. - Thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội Để xác định người bị buộc tội sẽ hay không tiếp tục phạm tội, các cơ quan có thẩm quyền phải dựa vào nhân thân và hành vi của người bị buộc tội.
+ Về nhân thân, người bị buộc tội có nhân thân xấu như: Lưu manh chuyên nghiệp; côn đồ hung hãn; nhiều tiền án, tiền sự…. nguy cơ tái phạm sẽ cao hơn người có nhân thân tốt. + Về hành vi, người bị buộc tội có hành động như: Đe doạ, trả thù, mua chuộc, khống chế người làm chứng, người bị hại…hoặc chuẩn bị thực hiện tội 10 phạm mới. - Thứ tư, để bảo đảm thi hành án Tuỳ theo tính chất, mức độ của tội phạm, tuỳ theo đặc điểm nhân thân của bị cáo mà Toà án sẽ áp dụng BPNC cần thiết để bảo đảm thi hành án.
Toà án thường áp dụng căn cứ này trong những trường hợp sau: + Tòa án cấp sơ thẩm có thể quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội. + Tòa án cấp phúc thẩm có thể bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án đối với những bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn Những BPNC trong luật tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc trong một số trường hợp khác còn áp dụng đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm của họ, ngăn ngừa họ bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc có những hành động khác làm cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Những BPNC là một trong những công cụ hữu hiệu để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Cơ quan có thẩm quyền THTT đạt hiệu quả, đáp ứng được kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Vì những lý do như trên nên trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS thì BPNC chiếm vị trí đặc biệt quan trọng.