Lời mở đầu của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 đã nêu rõ. “… Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền, Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn, 16 Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản, Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy”. Hay Điều 3 của Tuyên ngôn quy định “Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể”. Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định.
“Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định. Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ.
Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do. Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại toà án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội. Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp. Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường”.
17 Từ những viện dẫn trên, chúng ta thấy rằng các quốc gia trên thế giới rất chú trọng và quan tâm bảo đảm đến các quyền con người nói chung, quyền của người bị tạm giữ nói riêng các quyền này được thể hiện rõ trong các văn kiện có giá trị quốc tế. Việt Nam chúng ta là thành viên của Liên hợp quốc, đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả hai phương diện lập pháp và cam kết thực thi các văn kiện về quyền con người. Vì thế, BPTG trong TTHS cần được quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm quyền con người theo tinh thần của pháp luật quốc tế. Thứ hai, những bảo đảm từ khía cạnh Hiến pháp Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới được thành lập, trong bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp năm 1946 của nước ta đã ghi nhận.
Công dân Việt Nam có quyền “Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam”. Đến Hiến pháp năm 1959 quy định. “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều bình đẳng trước pháp luật”.
“Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được bảo đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Toà án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân” Hiến pháp năm 1980, bản hiến pháp sau khi nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thống nhất một mối. Tại Điều 69 của Hiến pháp quy định. “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
Không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê 18 chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Việc bắt và giam giữ người phải theo đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”. “Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật”.
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định. “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Điều 72 Hiến pháp 1992 cũng nhấn mạnh. “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.
Những quy định trên của Hiến pháp nhằm ngăn ngừa sự vi phạm quyền con người, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự của công dân từ phía các cơ quan, cán bộ nhà nước. Các quy định tại Điều 71 và Điều 72 cũng là cơ sở để xây dựng Luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong thực tiễn. Đến Hiến pháp 2013 đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người bằng việc quy định Chương 2, Quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong số các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận, thì quyền bất khả xâm phạm về thân thể được chú trọng đặc biệt.
Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất 19 khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Qua quy định của các bản Hiến pháp, có thể thấy rằng, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong đó, quyền của người bị bắt, giữ rất được chú trọng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, to lớn, góp phần xây dựng một nước Việt Nam XHCN “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng một nhà nước “Pháp quyền XHCN”. Như vậy, việc quy định rõ, chi tiết về BPTG trong TTHS được xem như góp phần triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn - Cơ sở lý luận Pháp luật TTHS như một công cụ giúp cơ quan THTT có đủ cơ sở, thẩm quyền và điều kiện giải quyết đúng đắn vụ án, bảo đảm không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm. Pháp luật TTHS, cụ thể là BLTTHS quy định rất nhiều chế định, trong đó có chế định BPNC để tạo điều kiện cho hoạt động chứng minh, thu thập chứng cứ, loại trừ khả năng cản trở, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, cũng như đảm bảo thi hàn án hình sự. Vì vậy, việc áp dụng một số BPNC, trong đó có BPTG là rất cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trong nhóm các BPNC, BPTG đóng một vai trò quan trọng.
BPTG đảm bảo cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, thể hiện sự chuyên 20 chính của Nhà nước XHCN trong việc đấu tranh chống tội phạm. Việc quy định BPTG trong BLTTHS góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của chế độ XHCN, bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Việc áp dụng tùy tiện BPTG sẽ làm oan người vô tội, tạm giữ sai thẩm quyền, tạm giữ quá hạn. đều bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật.
Những hành vi vi phạm này không chỉ xâm hại hoạt động đúng đắn của các CQĐT, truy tố, xét xử, xâm hại quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sinh mạng chính trị của công dân mà còn làm giảm uy tín của Nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan thi hành pháp luật. Việc quy định và áp dụng BPTG còn có ý nghĩa lớn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, nhất là quyền tự do cá nhân được Hiến pháp năm 2013 và pháp luật ghi nhận. Điều 14 Hiếp pháp năm 2013 ghi nhận: "Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật". Để cụ thể hóa Hiến pháp, BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 quy định các nguyên tắc: tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, theo đó khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, điều tra viên… trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân.
Thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa (Điều 4 BLTTHS năm 2003, Điều 8 BLTTHS năm 2015); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể theo đó mọi người (trong đó có người bị tạm giữ) có quyền bất khả xâm phạm về thân thể.