Chương I NHAN THUC CHUNG VỀ CÁC BIEN PHÁP NGAN CHAN BAT, TAM GIU, TAM GIAM 1. LÝ LUẬN CO BẢN VỀ CAC BIEN PHAP NGAN CHAN BAT, TẠM GIU, TAM GIAM 1. Khái niệm các biện pháp ngăn chan bat, tạm giữ, tam giam trong luật TTHS Việt Nam 1. Khái niệm về biện pháp ngăn chặn TBe luật tố tụng hình su quy định một loạt các biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhằm thực hiện những mục đích tố tụng nhất định.
Căn cứ vào mục đích của chúng có thể phân loại các biện pháp cưỡng chế thành các nhóm sau: - Nhóm biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thu thập và ghi nhận chứng cứ (khám người, khám ‘noi ở, xem xét dấu vết.); - Nhóm biện pháp cưỡng chế để đảm bảo cho quá trình tố tụng được tiến hành bình thường và thuận lợi (kê biên tài sản, áp giải bị can. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS thì các BPNC chiếm vi trí đặc biệt quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến thân thể, quyền con người, hạn chế một số quyền nhân thân của công dân. Chính vì vậy mà BLTTHS đã dành một chương riêng để quy dịnh về các BPNC. Để việc hiểu và thực hiện tốt các quy định về BPNC, nhiều công trình, tài liệu, sách báo đã có những khái niệm khác nhau về các BPNC., Từ điển thuật ngữ pháp lý phổ thông của Nhà xuất bản "Sách pháp lý" Matxcova, 1973 giải thích rang: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự do điều tra viên, dự thẩm viên, kiểm sát viên và tòa án áp dụng đối với bị can (người bị tình nghi) nếu có đủ căn cứ cho rằng bị can trốn tránh việc điều tra, dự thẩm hoặc trốn tránh tòa án, cản trở việc xác minh sự thật về vụ án, hay sẽ tiếp tục hoạt động phạm tội, cũng như để đảm bảo việc thi hành án [70].
BLTTHS Việt Nam hiện hành mặc dù không đưa ra một khái niệm về BPNC, tuy nhiên tại Điều 79 BLTTHS 2003 cũng đã quy định các căn cứ áp dụng các BPNC như sau: [Để kịp thời ngăn chan tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Các căn cứ này cũng đã phản ánh một phần bản chất của của các BPNC của pháp luật TTHS Việt Nam. Tuy nhiên, BPNC là biện pháp cưỡng chế tố tụng rất nghiêm khắc, đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng về chủ thể áp dụng, về thẩm quyền áp dụng, về đối tượng bị áp dụng, về căn cứ và mục đích áp dụng để từ đó mới có thể hiểu một cách thấu đáo và vận dụng đúng đắn vào thực tiễn. - Giáo trình luật TTHS Việt Nam - Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng: BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp.
Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn cho việc điều tra truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [63]. - Cuốn "Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình su" lại giải thích rằng BPNC là một loại biện pháp do cơ quan điều tra, VKS và Tòa án áp dụng 10 đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị kết án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội. BPNC gồm: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [59]. Có thể nói rằng, các sách báo, tài liệu nêu trên đã nêu lên được khía cạnh này hay khía cạnh khác khái niệm về các BPNC, nhưng nhìn chung vẫn chưa đưa ra được một khái niệm day đủ, khoa học chứa dung tất ca các yếu tố cấu thành nên BPNC thể hiện ở các dấu hiệu đặc trưng như căn cứ áp dụng, mục đích, thẩm quyền áp dụng và đối tượng bị áp dụng BPNC.
Vì vậy, cá nhân tôi cho rằng, một khái niệm hoàn chỉnh, chính xác về các biện pháp ngăn chặn thì trong khái niệm đó phải hàm chứa tất cả các dấu hiệu đặc trưng của các BPNC như: căn cứ áp dụng; mục đích áp dụng; thẩm quyền áp dụng và đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chan. ITéng hợp từ những quy định của BLTTHS va một số khái niệm trên, qua phân tích có thể hiểu được rằng: Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế TTHS do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khỏi tố; | khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội. Biện pháp ngăn chặn gồm: Bat, tạm giữ, tạm giam, cấm ải khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiên hoặc tài sản có gid trị để bảo đảm Trong các BPNC biện pháp bat được xếp thứ tự đầu tiên rồi đến tam giữ, tạm giam. Vậy ta hãy xem xét từng khái niệm về các BPNC đó.
Khái niệm về biện pháp ngăn chặn bắt Bat là một trong những hình thức thể hiện của BPNC. Bắt có tính chất khởi đầu cho việc áp dụng BPNC tiếp theo. Bắt là mọt trong những BPNC có 1] tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bat nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục theo pháp luật quy định. Bắt là BPNC nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trốn tránh pháp luật, nhằm tạo điều kiện bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi.
Bắt người là BPNC mang tính đặc thù thường được áp dụng liền trước các BPNC như tạm giữ, tạm giam. BPNC này làm hạn chế một số quyền tự do của cá nhân người bị bắt, buộc họ phải có mặt tại địa điểm quy định để làm việc với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Biện pháp bắt người được tinh từ thời điểm người có chức vụ theo luật định ra lệnh bắt đến khi kết thúc là người bị bắt được dẫn giải đến nơi để tạm giữ, tạm giam [33]. Bắt hiểu theo nghĩa rộng: Bắt không phải là biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với người phạm tội mà là BPNC của hoạt động TTHS.
Bat đúng người, bắt kịp thời có tác dụng ngăn chặn mọi âm mưu và thủ đoạn chống đối của người phạm tội, không cho họ tiếp tục phạm tội, che giấu, trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc xác định sự thật để giải quyết vụ án. Bắt hiểu theo nghĩa hẹp: Đối với cá nhân người bị bắt là sự hạn chế một số quyền tự do của cá nhân, là điểm khởi đầu của sự trừng phat của pháp luật nếu người đó là người thực hiện hành vi phạm tội, bởi vì khi thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam được khấu trừ vào thời gian thi hành án. Bắt không theo quy định của pháp luật: bắt nhầm (bắt oan, sai) người Vô tội sẽ gây một tác hại rất lớn. không những các quy định của pháp luật bị vi phạm, mà quyền bất khả xâm phạm của con người bị xâm hại, ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân được pháp luật bảo hộ.
Từ đó nó ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với cơ quan bảo vệ pháp luật, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài nhân quyền để chống phá Nhà nước ta. Vì vậy, khi bắt người phải thể hiện thái độ kiên quyết dau izanh chống tội phạm, 12 song cũng phải thận trọng khi xem xét đánh giá chứng cứ. Quá trình thực hiện BLTTHS các cơ quan tư pháp như: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Bộ Tư pháp, đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật đơn ngành, liên ngành để hướng dẫn việc áp dụng BPNC trong đó có biện pháp bắt. Nhằm mục đích đấu tranh có hiệu quả với tội phạm, tăng cường pháp chế XHCN, thực hiện mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật cũng như đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân, BLTTHS quy định ba trường hợp bắt, đó là: - Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; - Bất người trong trường hợp khẩn cấp; - Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
Các trường hợp nêu trên là quy định chung để khi có căn cứ thuộc trường hợp nào thì cơ quan, người có thẩm quyền do luật định có thể áp dung. Song căn cứ vào Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND), các quy định đối với người chưa thành niên, các quy định đối với người phạm tội là người nước ngoài, khi chủ thể thuộc các đối tượng này còn phải vận dụng thêm các quy định mang tính cá biệt để áp dụng BPNC cũng như áp dụng các quy định trong BLTTHS được đúng đắn. Việc áp dụng các biện pháp bắt cũng phải quán triệt các nguyên tắc chung, các chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển nên kinh tế - xã hội của đất nước ta. Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, có thể tóm tắt khái niệm về biện pháp bắt trong TTHS như sau: Bắt là biện pháp cưỡng chế được quy định trong luật TTHS do cơ quan, người có thẩm quyền do luật định áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố; người dang có hành vi phạm toi quả tang hoặc đang bị truy nã khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kip 13 thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc bi can, bi cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.