Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự" do nghiên cứu sinh Trần Ngọc Minh thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Võ Khánh Vinh và PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh, bảo vệ năm 2023 thuộc ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 9380104).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, lý luận tố tụng hình sự (TTHS) xác định chức năng tố tụng là hệ thống định hướng cho hoạt động giải quyết vụ án hình sự (VAHS). Ba chức năng cơ bản gồm: chức năng buộc tội (CNBT), chức năng bào chữa (CNBC) và chức năng xét xử (CNXX). Trong đó, CNBT giữ vai trò khởi động toàn bộ tiến trình tố tụng, là tiền đề phát sinh CNBC và CNXX. Tuy nhiên, lý luận TTHS Việt Nam còn tồn tại nhận thức chưa thống nhất: nhiều quan điểm cho rằng CNBT chỉ xuất hiện ở giai đoạn truy tố và xét xử, do Viện kiểm sát (VKS) độc quyền đảm nhiệm, chưa nhìn nhận thỏa đáng vị trí của giai đoạn khởi tố, điều tra và sự tham gia của Cơ quan điều tra (CQĐT) cũng như các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Về lập pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành bộc lộ hạn chế trong việc phân định thẩm quyền giữa các chủ thể buộc tội (CTBT), địa vị của bên bào chữa chưa tương xứng để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, và chưa có hệ thống lý luận hoàn chỉnh về CNBT trong giai đoạn tiền xét xử. Về thực tiễn, việc thực hiện CNBT trong khởi tố, điều tra còn để xảy ra tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm, bức cung, nhục hình, trả hồ sơ điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án do thiếu chứng cứ buộc tội.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS, phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện lý luận và nâng cao hiệu quả thực hiện CNBT đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết năm nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
  2. Phân tích, xây dựng hệ thống lý luận về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS (khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, ý nghĩa, nội dung, chủ thể, nguyên tắc và các yếu tố tác động).
  3. Khảo sát, đánh giá các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS.
  4. Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS trên thực tế tại Việt Nam.
  5. Đề xuất các yêu cầu và nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm thực hiện đúng chức năng này.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án được xác định tương ứng:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Thực trạng lý luận về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 1: Tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung, phạm vi, chủ thể của CNBT cũng như mối quan hệ giữa CNBT với các yếu tố cơ bản của TTHS; chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng quy định của pháp luật về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS ở Việt Nam được thể hiện như thế nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 2: Quy định pháp luật TTHS có sự phát triển qua các thời kỳ lịch sử nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế nhất định cả về lý luận và kỹ thuật lập pháp liên quan đến CNBT trong khởi tố, điều tra.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực tiễn thi hành pháp luật trong khởi tố, điều tra VAHS của các CTBT tại Việt Nam hiện nay được thể hiện như thế nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 3: Thực tiễn thi hành đạt được nhiều kết quả tích cực trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng vẫn còn những sai sót, vướng mắc cần giải quyết.
  • Câu hỏi nghiên cứu 4: Cần có giải pháp nào để góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật và giúp việc thực hiện CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS được đúng đắn, hiệu quả?
    • Giả thuyết nghiên cứu 4: Chưa có hệ thống giải pháp đồng bộ; cần tập trung hoàn thiện pháp luật TTHS về CNBT kết hợp chặt chẽ với các giải pháp về tổ chức bộ máy và cán bộ theo định hướng cải cách tư pháp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS; các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và thực tiễn thực hiện CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện CNBT trong khởi tố, điều tra; không khảo sát thực tiễn thực hiện CNBT đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia nhằm bảo đảm yêu cầu bảo mật.
  • Phạm vi chủ thể: Khảo sát thực tiễn của hai chủ thể buộc tội chủ yếu là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; không khảo sát thực tiễn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các chủ thể buộc tội không mang tính nhà nước.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi cả nước Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát văn bản quy phạm pháp luật TTHS từ năm 1988 (thời điểm ban hành BLTTHS đầu tiên) đến năm 2023; khảo sát thực tiễn áp dụng trong khoảng thời gian 10 năm từ năm 2013 (khi ban hành Hiến pháp năm 2013) đến hết năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chức năng tố tụng và chức năng buộc tội theo các nhóm nội dung:

Các công trình nghiên cứu ngoài nước:

  • Nghiên cứu tại Liên Xô và Liên bang Nga: Tác phẩm "Buộc tội nhà nước tại phiên tòa" của V. Xavitxki (1971), "Tố tụng hình sự Xô Viết" của M. Chen Xốp (1978), "Bản chất của luật tố tụng hình sự Xô Viết" của P. Thresnhicov, "Giáo trình Tố tụng hình sự" của K. Grusencô (2000) đã phân tích nội dung CNBT, khẳng định sự hình thành của CNBT từ giai đoạn điều tra và vai trò của CQĐT. Các luận án của Tushev Aleksandr Aleksandrovich về hệ thống chức năng và thẩm quyền của công tố viên, luận án của Trofimov Vyacheslav Olegovich về quyền hạn của công tố viên trong quá trình tranh tụng đã làm rõ thẩm quyền công tố ở giai đoạn tiền xét xử.
  • Nghiên cứu tại các nước phương Tây: Tác phẩm của Peter Arenella (1983) tại Hoa Kỳ, Stanley Lubman (1979) về mô hình TTHS Trung Quốc, Richard Garside (2008) tại Anh đặt vấn đề về sự phân định ba chức năng TTHS theo từng mô hình tố tụng. Luận án tiến sĩ của Tony Paul Marguery (2008) tại Đại học Groningen khảo sát tính thống nhất và đa dạng của cơ quan công tố tại Pháp, Hà Lan, Ba Lan, Cộng hòa Séc; luận án của Despina Kyprianou (2008) phân tích so sánh vai trò của cơ quan công tố trong điều tra giữa truyền thống thông luật và dân luật.
  • Các báo cáo quốc tế: Báo cáo của UNAFEI (1997, 2002) về mối quan hệ giữa công tố và cảnh sát; công trình nghiên cứu tổ chức tư pháp Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga (2011) của nhóm tác giả Simon Butt, Luke Nottage, Kent Anderson, Makoto Ibusuki, David Johnson, Byung-Sun Cho, Tom Ginsburg.

Các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Nhóm nghiên cứu về chức năng tố tụng nói chung: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Hùng (2012); đề tài cấp bộ do Đinh Thị Mai làm chủ nhiệm (2016); các tham luận hội thảo năm 2015 của Đinh Thị Mai, Nguyễn Thái Phúc, Nguyễn Ngọc Chí; bài viết của Đinh Thị Mai (2017) phân tích lý thuyết chức năng luận, mối quan hệ giữa mô hình TTHS và chức năng tố tụng, đề xuất phân loại chủ thể tố tụng dựa trên chức năng cơ bản.
  • Nhóm nghiên cứu chức năng tố tụng khác trong quan hệ với CNBT: Luận văn của Trần Hoàng Lâm (2007) và luận án của Cao Thị Ngọc Hà (2019) về chức năng bào chữa; luận án của Lê Tiến Châu (2008) về chức năng xét xử.
  • Nhóm nghiên cứu các yếu tố cơ bản của TTHS liên quan đến CNBT: Luận án của Nguyễn Thị Thủy (2014) về mô hình TTHS; chuyên khảo do Tô Văn Hòa chủ biên; các bài viết của Đào Trí Úc (2017), Đỗ Ngọc Thịnh (2017), Trần Đình Nhã (2017), Nguyễn Thủ Thanh (2017), Trần Quang Huyên (2017), Phạm Tuấn Hải và Bùi Ngọc Hà (2017); nghiên cứu về các nguyên tắc TTHS của Đinh Thế Hưng (2015), Nguyễn Văn Hiển (2011), Lê Lan Chi (2010); nghiên cứu về chứng cứ và chứng minh của Trần Quang Tiệp (2011), Vương Văn Bếp (2014), Vũ Xuân Thao (2020), Trần Văn Tuân (2021).
  • Nhóm nghiên cứu trực tiếp về CNBT: Luận văn của Lương Thị Thùy Dung (2004) về hoạt động buộc tội của người bị hại; luận văn của Nguyễn Thị Sơn Thủy (2011) về CNBT của CQĐT; luận văn của Kim Thị Bích Ngọc (2017) về CNBT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; bài viết của Đỗ Đình Hòa (2015) về CNBT và nghĩa vụ chứng minh của CQĐT.
  • Nhóm nghiên cứu các khía cạnh cụ thể: Luận án của Lê Thị Thúy Nga (2019) về chủ thể buộc tội; luận án của Đào Anh Tới (2018) và Nguyễn Tiến Sơn (2012) về mối quan hệ giữa CQĐT và VKS; sách chuyên khảo của Lê Hữu Thể về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; luận án của Nguyễn Trọng Phúc (2010) về biện pháp ngăn chặn; bài viết của Trần Văn Độ (2013), Ngũ Quang Hồng (2011), Nguyễn Nghĩa (2016).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu khái quát hệ thống chức năng tố tụng, hoặc chỉ tập trung vào chức năng xét xử, chức năng bào chữa, hoặc nghiên cứu CNBT thuần túy ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, hoặc chỉ giới hạn ở một chủ thể riêng biệt (CQĐT hoặc VKS). Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về lý luận và thực tiễn của CNBT trong hai giai đoạn tiền xét xử là khởi tố và điều tra VAHS; chưa có sự khảo sát đầy đủ số liệu thực tiễn thi hành pháp luật trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2013-2022 để xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ cho giai đoạn này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Cơ sở phương pháp luận: Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; bám sát các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Khung khái niệm và lý thuyết phân tích:
    • Khái niệm chức năng TTHS: Tiếp cận dưới góc độ phương diện hoạt động tố tụng chủ yếu định hướng việc giải quyết vụ án của các nhóm chủ thể theo luật định.
    • Khái niệm buộc tội: Hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền thực hiện trong suốt quá trình TTHS nhằm đưa ra những cáo buộc về trách nhiệm hình sự đối với chủ thể thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định là tội phạm theo trình tự, thủ tục luật định. Luận án phân biệt rõ ràng giữa "buộc tội", "truy cứu trách nhiệm hình sự" (hoạt động tổng thể bao hàm cả buộc tội, bào chữa, xét xử) và "chức năng công tố" (buộc tội nhân danh nhà nước của VKS, phân biệt với quyền tư tố của bị hại).
    • Khái niệm CNBT: Chức năng cơ bản của TTHS phân định thẩm quyền của các CTBT trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm đưa ra cáo buộc về trách nhiệm hình sự đối với chủ thể bị buộc tội, tiến hành từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật hoặc kết thúc sớm hơn theo luật định.
    • Khái niệm CNBT trong khởi tố, điều tra: Phân định thẩm quyền của các CTBT bắt đầu từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cho đến khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc kết thúc sớm hơn khi đình chỉ điều tra.
    • Lý thuyết mô hình tố tụng: Xem xét vị trí CNBT trong mô hình tố tụng thẩm vấn, tranh tụng và mô hình pha trộn của Việt Nam; phân tích mối quan hệ giữa CNBT với mục đích TTHS (Điều 2 BLTTHS) và các nguyên tắc tố tụng cơ bản.

Phương pháp nghiên cứu thực tế và phân bổ trong luận án:

Phương pháp nghiên cứu Phạm vi sử dụng trong luận án Mục đích và nội dung áp dụng cụ thể
Phương pháp nghiên cứu tài liệu Toàn bộ các chương (Chương 1, 2, 3, 4) Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của VKSND tối cao, Cục V03 Bộ Công an, các giáo trình, luận án, tạp chí khoa học trong và ngoài nước.
Phương pháp phân tích, tổng hợp Toàn bộ các chương (Chương 1, 2, 3, 4) Phân tích các luận điểm khoa học, tổng hợp quy định pháp luật và dữ liệu thực tiễn để xây dựng hệ thống khái niệm, tiêu chí đánh giá và các đề xuất giải pháp.
Phương pháp thống kê Chương 1 và Chương 3 Thống kê hệ thống các công trình nghiên cứu (Chương 1); tổng hợp số liệu thụ lý tố giác, tin báo, số vụ án/bị can khởi tố, kết luận điều tra, truy tố, trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ (Chương 3).
Phương pháp tổng kết thực tiễn Chương 3 Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật của CQĐT và VKS thông qua báo cáo nghiệp vụ định kỳ của VKSND tối cao và Bộ Công an giai đoạn 2013-2022.
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia Chương 2 và Chương 3 Trao đổi, phỏng vấn các chuyên gia pháp lý, điều tra viên, kiểm sát viên về vướng mắc lý luận và thực tiễn thực hiện CNBT.
Phương pháp so sánh, đối chiếu Chương 2 và Chương 3 So sánh pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (1988, 2003, 2015); so sánh quy định về CNBT của Việt Nam với các quốc gia (Nga, Đức, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản).
Phương pháp nghiên cứu điển hình Chương 3 Phân tích các vụ án cụ thể, tình huống thực tiễn điển hình nhằm minh chứng cho các vi phạm, vướng mắc trong hoạt động buộc tội.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2023 (Hiến pháp 2013, BLTTHS 1988, 2003, 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự 2015, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 và các văn bản hướng dẫn).
  • Văn bản pháp luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Hoa Kỳ.
  • Báo cáo tổng kết công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra của VKSND tối cao và báo cáo công tác điều tra xử lý tội phạm của Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp (Cục V03) Bộ Công an trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước thành các nhóm chủ đề chuyên sâu:

  • Đánh giá tổng quan nghiên cứu ngoài nước: Các công trình của các học giả Liên Xô/Nga (V. Xavitxki, M. Chen Xốp, K. Grusencô, Tushev, Trofimov) và các học giả phương Tây (Peter Arenella, Richard Garside, Tony Paul Marguery, Despina Kyprianou) đã làm rõ bản chất công tố, sự hình thành hoạt động buộc tội trong giai đoạn điều tra trước khi ra tòa.
  • Đánh giá tổng quan nghiên cứu trong nước: Phân tích 5 nhóm công trình nghiên cứu gồm: nhóm về chức năng TTHS tổng quát (Nguyễn Mạnh Hùng, Đinh Thị Mai, Nguyễn Thái Phúc, Nguyễn Ngọc Chí); nhóm về các chức năng khác (Trần Hoàng Lâm, Cao Thị Ngọc Hà, Lê Tiến Châu); nhóm về các chế định liên quan như mô hình tố tụng, nguyên tắc, chứng cứ (Nguyễn Thị Thủy, Tô Văn Hòa, Đinh Thế Hưng, Nguyễn Văn Hiển, Lê Lan Chi, Trần Quang Tiệp, Vương Văn Bếp, Vũ Xuân Thao, Trần Văn Tuân); nhóm nghiên cứu trực tiếp CNBT (Lương Thị Thùy Dung, Nguyễn Thị Sơn Thủy, Kim Thị Bích Ngọc, Đỗ Đình Hòa); nhóm nghiên cứu các khía cạnh cụ thể về chủ thể và biện pháp tố tụng (Lê Thị Thúy Nga, Đào Anh Tới, Nguyễn Tiến Sơn, Lê Hữu Thể, Nguyễn Trọng Phúc).
  • Xác định những khoảng trống chưa được giải quyết: Chưa có công trình nghiên cứu độc lập, toàn diện về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS; còn bất đồng về thời điểm bắt đầu/kết thúc, giới hạn chủ thể buộc tội; chưa có công trình nào khảo sát toàn diện thực tiễn giai đoạn 2013-2022 để đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ. Từ đó, xác lập 4 câu hỏi nghiên cứu và 4 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho luận án.

Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho đề tài qua 4 nội dung chính:

  • Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò và ý nghĩa của CNBT trong khởi tố, điều tra:
    • Luận án đưa ra định nghĩa khoa học về "Buộc tội", "Chức năng buộc tội" và "Chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra VAHS".
    • Phân tích 3 đặc điểm cơ bản: (1) Là một trong ba chức năng cơ bản của TTHS, giữ vai trò chủ đạo, mở đường làm phát sinh CNBC và CNXX; (2) Tồn tại xuyên suốt giai đoạn khởi tố, điều tra, bắt đầu từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố (hoặc đình chỉ điều tra); (3) Là căn cứ phân định thẩm quyền tố tụng của các CTBT (CQĐT, VKS, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, người bị hại).
    • Vị trí, vai trò: Được luận giải trong mối quan hệ hữu cơ với mục đích TTHS (Điều 2 BLTTHS), các nguyên tắc cơ bản (xác định sự thật vụ án, bảo đảm tranh tụng, trách nhiệm khởi tố và xử lý VAHS), mô hình tố tụng (mô hình pha trộn thiên về thẩm vấn của Việt Nam) và địa vị pháp lý của các bên.
  • Nguyên tắc, nội dung, chủ thể của CNBT trong khởi tố, điều tra:
    • Phân tích hệ thống nguyên tắc chi phối hoạt động buộc tội: Nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa.
    • Nội dung CNBT: Gồm toàn bộ các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá tài liệu, chứng cứ nhằm chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; lập các văn bản tố tụng ghi nhận cáo buộc (quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, các quyết định phê chuẩn của VKS).
    • Hệ thống chủ thể: Phân định rõ chủ thể thực hiện CNBT mang tính quyền lực nhà nước (CQĐT, VKS, Thủ trưởng/Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng/Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) và chủ thể buộc tội không mang tính nhà nước (người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại trong các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc thực hiện quyền buộc tội). Đồng thời phân tích chủ thể bị buộc tội (người bị bắt, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can).
  • Pháp luật một số quốc gia về chức năng buộc tội và giá trị tham khảo:
    • Nghiên cứu cơ chế buộc tội trong giai đoạn điều tra tại các nước theo hệ thống Dân luật (CHLB Đức, Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản) và hệ thống Thông luật (Hoa Kỳ), tập trung vào sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa cảnh sát điều tra và cơ quan công tố.
    • Rút ra bài học cho Việt Nam: Tăng cường trách nhiệm công tố gắn liền với hoạt động điều tra; kiểm soát tư pháp chặt chẽ đối với các biện pháp hạn chế quyền con người; phân định rành mạch giữa chức năng điều tra, chức năng công tố và bảo đảm quyền thu thập chứng cứ của bên bào chữa.
  • Các yếu tố tác động: Làm rõ sự chi phối của thể chế chính trị, quan điểm cải cách tư pháp, trình độ lập pháp, trình độ năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng, cơ sở vật chất, kỹ thuật hình sự và ý thức pháp luật của người dân.

Chương 3. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM

Chương 3 phân tích quy định pháp luật và đánh giá số liệu thực tế giai đoạn 2013-2022:

  • Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam:
    • Khảo sát quá trình lập pháp qua các giai đoạn từ BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 đến BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
    • Phân tích cụ thể các quy định về thẩm quyền, căn cứ, trình tự thủ tục thực hiện các biện pháp buộc tội: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can; các biện pháp thu thập chứng cứ (khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra); các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh).
    • Chỉ ra các điểm hạn chế trong quy định: Chưa có chương/mục riêng phân định rõ ràng các chủ thể theo chức năng tố tụng; quy định về sự tham gia của luật sư, người bào chữa trong quá trình thu thập chứng cứ ở giai đoạn khởi tố, điều tra còn bị hạn chế, tạo sự mất cân đối với bên buộc tội; căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam còn mang tính định tính; cơ chế kiểm sát trực tiếp của VKS đối với một số hoạt động điều tra của CQĐT chưa thực sự chặt chẽ.
  • Thực tiễn thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT và VKS giai đoạn 2013-2022:
    • Kết quả đạt được: Đa số tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thụ lý, giải quyết đúng luật; tỷ lệ khởi tố, điều tra, khám phá án hình sự hàng năm đạt chỉ tiêu Quốc hội giao; hoạt động phối hợp giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên ngay từ giai đoạn thụ lý nguồn tin được tăng cường; việc lập hồ sơ điều tra đề nghị truy tố cơ bản bảo đảm căn cứ pháp luật, hạn chế oan sai.
    • Những tồn tại, vi phạm phát hiện qua thực tiễn:
      • Vẫn còn tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; việc phân loại, xác minh ban đầu của công an cấp xã đôi khi còn chậm trễ hoặc để sót tội phạm.
      • Sai sót trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn: Việc bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam một số trường hợp chưa đủ căn cứ; còn lạm dụng biện pháp tạm giam thay vì áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn.
      • Vi phạm trong thu thập chứng cứ và hỏi cung: Tình trạng bức cung, mớm cung, nhục hình cá biệt vẫn xảy ra; việc chuyển hóa tài liệu trinh sát thành chứng cứ buộc tội còn lúng túng; biên bản tố tụng đôi khi còn sơ sài, thiếu khách quan.
      • Vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa VKS và CQĐT hoặc Tòa án trả hồ sơ cho VKS chiếm tỷ lệ đáng kể, chủ yếu do thiếu chứng cứ buộc tội hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, lọt người phạm tội.
      • Tình trạng tạm đình chỉ điều tra kéo dài do chưa truy tìm được bị can hoặc chưa có kết quả giám định, định giá tài sản; việc đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm phản ánh việc khởi tố bị can ban đầu thiếu căn cứ vững chắc.
    • Phân tích nguyên nhân: Do quy định pháp luật còn bất cập, chưa đồng bộ; áp lực về chỉ tiêu điều tra, xử lý tội phạm; năng lực, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ điều tra, kiểm sát viên còn hạn chế; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác điều tra chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

Chương 4. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

Chương 4 xác định các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Yêu cầu bảo đảm thực hiện đúng CNBT trong khởi tố, điều tra:
    • Quán triệt đường lối, chính sách cải cách tư pháp của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
    • Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc tranh tụng trong TTHS; xác lập sự cân bằng tương đối giữa bên buộc tội và bên bào chữa ngay từ giai đoạn điều tra.
    • Tuân thủ triệt để nguyên tắc pháp chế, bảo đảm phát hiện, xử lý nhanh chóng, chính xác tội phạm, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.
    • Phân định rành mạch, hợp lý nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kiểm soát quyền lực hiệu quả trong quá trình buộc tội.
  • Các nhóm giải pháp hoàn thiện:
    • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS:
      • Sửa đổi BLTTHS theo hướng thiết kế chương riêng hoặc phân loại rõ các chủ thể tố tụng theo chức năng (bên buộc tội, bên gỡ tội/bào chữa, bên xét xử và các chủ thể tham gia tố tụng khác).
      • Quy định cụ thể, minh bạch thẩm quyền, trách nhiệm của CQĐT và VKS trong hoạt động buộc tội; tăng cường trách nhiệm công tố của VKS gắn với hoạt động điều tra, bảo đảm Kiểm sát viên tham gia thực chất, trực tiếp kiểm sát các hoạt động điều tra nhạy cảm ngay từ đầu.
      • Hoàn thiện chế định biện pháp ngăn chặn: Thu hẹp và lượng hóa cụ thể các căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm.
      • Hoàn thiện quy định về thu thập chứng cứ và bảo đảm quyền của người bị buộc tội: Mở rộng quyền tiếp cận hồ sơ, chứng cứ của người bào chữa ngay trong giai đoạn điều tra; quy định bắt buộc ghi âm, ghi hình có âm thanh trong toàn bộ quá trình hỏi cung bị can trên phạm vi toàn quốc; hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
    • Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện và nâng cao năng lực:
      • Đổi mới, tinh gọn bộ máy CQĐT các cấp theo hướng chuyên sâu, hiện đại; củng cố mối quan hệ phối hợp và chế ước giữa CQĐT và VKS trong quá trình buộc tội.
      • Nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; tăng cường tập huấn kỹ năng điều tra kỹ thuật số, kỹ năng đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện.
      • Hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hình sự, phòng hỏi cung chuẩn hóa phục vụ hoạt động thu thập, bảo quản, giám định chứng cứ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập những đóng góp khoa học mới trên ba phương diện lý luận, thực tiễn và giải pháp:

  • Đóng góp về mặt lý luận:
    • Xây dựng hệ thống khái niệm đồng bộ: Tố tụng hình sự tiếp cận theo chức năng tố tụng, chức năng tố tụng hình sự, chức năng buộc tội, và chức năng buộc tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS.
    • Luận chứng khoa học khẳng định CNBT không chỉ xuất hiện tại phiên tòa hay giai đoạn truy tố mà đã tồn tại và vận hành xuyên suốt trong giai đoạn khởi tố, điều tra.
    • Xác định rõ hệ thống chủ thể buộc tội không chỉ gồm VKS mà còn bao gồm CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và người bị hại; phân định rành mạch khái niệm buộc tội với khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự và chức năng công tố.
    • Làm rõ vị trí, vai trò của CNBT trong mối quan hệ với các yếu tố nền tảng của TTHS (mục đích, nguyên tắc, mô hình tố tụng pha trộn, địa vị pháp lý của các bên) và các chức năng tố tụng khác (CNBC, CNXX).
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Khảo sát, đánh giá toàn diện hệ thống quy định pháp luật TTHS Việt Nam về CNBT từ năm 1988 đến năm 2023, chỉ ra những bước tiến và những bất cập mang tính kỹ thuật lập pháp.
    • Đánh giá thực trạng thực hiện CNBT của CQĐT và VKS trên phạm vi toàn quốc qua dữ liệu 10 năm (2013-2022); nhận diện các hạn chế, sai phạm cụ thể trong thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp ngăn chặn, tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra, trả hồ sơ điều tra bổ sung và phân tích nguyên nhân của các tồn tại đó.
  • Đóng góp về mặt giải pháp:
    • Xác lập hệ thống yêu cầu có tính nguyên tắc nhằm bảo đảm thực hiện đúng CNBT trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
    • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điều luật cụ thể trong BLTTHS liên quan đến phân định chủ thể theo chức năng, thẩm quyền của CQĐT và VKS, chế định biện pháp ngăn chặn và các biện pháp bảo đảm tranh tụng, bình đẳng thu thập chứng cứ.
    • Đề xuất các giải pháp tổ chức, đào tạo nhân lực và bảo đảm kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài xuất phát từ các giới hạn khách quan được tác giả xác định trong phần phạm vi nghiên cứu:

  • Nhằm bảo đảm bí mật nhà nước theo quy định pháp luật, luận án không tiến hành khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng buộc tội đối với nhóm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia.
  • Luận án chỉ tập trung khảo sát sâu thực tiễn thực hiện CNBT của hai chủ thể cơ bản là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; chưa tiến hành khảo sát chuyên sâu trên thực tế hoạt động buộc tội của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (như Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư...) cũng như hoạt động buộc tội của các chủ thể không mang tính nhà nước (người bị hại).
  • Thời gian khảo sát thực tiễn giới hạn trong giai đoạn 10 năm (2013-2022).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Nghiên cứu thực tiễn thực hiện chức năng buộc tội của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu cơ chế tư tố và vai trò thực hiện chức năng buộc tội của người bị hại trong tố tụng hình sự.
  • Đánh giá tác động của việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập chứng cứ và thực hiện chức năng buộc tội trong giai đoạn điều tra.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và hoạt động cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành luật: Luận án cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan toàn diện về lý luận chức năng tố tụng, mô hình tố tụng và chế định buộc tội; là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc học tập, nghiên cứu môn Luật Tố tụng hình sự và Khoa học điều tra hình sự.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Các phân tích lý luận về phân định chủ thể theo chức năng, phân biệt buộc tội với công tố và truy cứu trách nhiệm hình sự tại Chương 2 có thể sử dụng làm học liệu giảng dạy chuyên đề sau đại học.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách, cơ quan lập pháp: Các đề xuất sửa đổi cụ thể về BLTTHS tại Chương 4 (về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, thẩm quyền công tố gắn với điều tra, quyền của người bào chữa) là nguồn tham khảo trực tiếp cho các dự án sửa đổi, bổ sung luật tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
  • Đối với cán bộ thực tiễn tại CQĐT và VKS: Các phân tích về thực trạng sai phạm, trả hồ sơ điều tra bổ sung, vi phạm trong áp dụng biện pháp ngăn chặn tại Chương 3 giúp các Điều tra viên, Kiểm sát viên rút kinh nghiệm nghiệp vụ trong thực hành quyền công tố và điều tra vụ án.

Câu hỏi thường gặp

  1. Theo luận án, "buộc tội" khác với "truy cứu trách nhiệm hình sự" và "chức năng công tố" như thế nào? Trả lời: Luận án chỉ ra rằng truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động xử lý tổng thể của Nhà nước đối với người phạm tội, đòi hỏi phải thực hiện cả việc thu thập chứng cứ buộc tội lẫn chứng cứ gỡ tội và chỉ kết thúc bằng bản án của Tòa án (bao hàm cả CNBT, CNBC và CNXX), do đó không thể đồng nhất với CNBT. Đối với chức năng công tố, đây là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước do cơ quan duy nhất là VKS thực hiện; trong khi đó, CNBT có phạm vi rộng hơn vì ngoài VKS còn có CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và cả chủ thể không mang tính quyền lực nhà nước (quyền tư tố của người bị hại).

  2. Luận án xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự vào lúc nào? Trả lời: Luận án xác định CNBT trong khởi tố, điều tra bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm) và kết thúc khi CQĐT hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành bản kết luận điều tra đề nghị VKS truy tố, hoặc kết thúc sớm hơn khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật.

  3. Những cơ quan, cá nhân nào được luận án xác định là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra? Trả lời: Luận án phân định CTBT thành hai nhóm: Nhóm chủ thể mang tính quyền lực nhà nước gồm Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cùng những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT; Điều tra viên; Cán bộ điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS; Kiểm sát viên; Kiểm tra viên; cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra); và Nhóm chủ thể không mang tính nhà nước gồm người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại trong các trường hợp luật định.

  4. Vì sao luận án không khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng buộc tội đối với nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia? Trả lời: Trong phần phạm vi nghiên cứu, tác giả nêu rõ việc không khảo sát thực tiễn thực hiện CNBT đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia là nhằm đáp ứng đúng và đầy đủ các quy định về yêu cầu bảo mật thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước.

  5. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp trọng tâm nào để bảo đảm tranh tụng bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong giai đoạn điều tra? Trả lời: Luận án đề xuất sửa đổi BLTTHS theo hướng thiết kế chương riêng phân loại các chủ thể theo chức năng tố tụng; mở rộng quyền thu thập chứng cứ và tiếp cận tài liệu hồ sơ vụ án của người bào chữa ngay từ khi khởi tố bị can; thu hẹp căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam; và thực hiện bắt buộc ghi âm, ghi hình có âm thanh trong toàn bộ quá trình hỏi cung bị can nhằm ngăn ngừa bức cung, nhục hình.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự" của tác giả Trần Ngọc Minh là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn đối với chức năng buộc tội trong giai đoạn tiền xét xử tại Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc các dữ liệu lập pháp từ năm 1988 đến năm 2023 và thực tiễn thi hành giai đoạn 2013-2022, tác giả đã làm rõ bản chất, phạm vi, hệ thống chủ thể và cơ chế vận hành của chức năng buộc tội trong mối liên hệ hữu cơ với chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và giải pháp tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ được luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn rõ rệt, đóng góp tích cực cho tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.