Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại; Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Á Châu (ACB) – Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2013-2017; Chương 3: Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Á Châu (ACB) – Chi nhánh Hải Phòng tới năm 2022. CƠ S LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại và các dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển g n liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá và đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế hiện nay. Khái niệm về Ngân hàng thương mại tại một số quốc gia: Tại Mỹ, ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính [2]. Tại Pháp, theo đạo luật ngân hàng năm 1941 cũng nêu rõ: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và s dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính" [3]. Còn tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 đã nêu: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí g i từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và s dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán [2].
Ta có thể thấy, ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền g i, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ của xã hội.2 Các dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại Các dịch vụ của ngân hàng thương mại bao gồm: Huy động vốn; Cho vay; Đầu 4 tư; Ngân quỹ; Trao đổi, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, dịch vụ,… 1. Các đặc điểm về dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về ngân hàng thương mại, tuy nhiên nhìn chung các ngân hàng thương mại luôn có những đặc điểm chính: - Là hoạt động kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận, thông qua hai hình thức kinh doanh chủ yếu là tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong đó, hoạt động tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau, để cấp tín dụng cho khách hàng có yêu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại là người “đi vay để cho vay” nhằm mục đích kiếm lời. Các hoạt động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời gian nhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ [4]. - Tuân thủ theo quy định của pháp luật, nghĩa là ch khi ngân hàng thương mại thoả mãn đầy đủ các điều kiện kh t khe do pháp luật qui định như điều kiện an toàn về vốn, phương án kinh doanh,… thì mới được phép hoạt động trên thị trường [4]. - Là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu s c tới các ngành khác và cả nền kinh tế.
Sở dĩ như vậy là do trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ tiềm ẩn nhiều rủi ro [4]. * Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại bao g m Hoạt động huy động vốn: Là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động khác của ngân hàng thương mại. Để có vốn hoạt động và cung cấp cho nền kinh tế, ngoài vốn chủ sở hữu, ngân hàng thương mại còn phải đi huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các hoạt động nhận tiền g i, phát hành trái phiếu và các loại hình khác phù hợp với từng thời kỳ và chiến lược phát triển của ngân hàng đó [2], [3]. Các hoạt động s dụng vốn: Là các hoạt động mang lại lợi nhuận trực tiếp và lớn nhất cho ngân hàng thương mại.
5 Các hoạt động này bao gồm: - Cho vay: Là hoạt động chiếm tỷ trọng cao trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, bởi vậy đây là nghiệp vụ rất quan trọng. - Đầu tư: Là hoạt động đi đôi với sự phát triển của xã hội thông qua hai hình thức chính là đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp khác. Hai là đầu tư vào trang thiết bị, tài sản cố định phục vụ cho các hoạt động của ngân hàng. - Ngân quỹ: Là hoạt động nhằm đảm bảo sự an toàn của ngân hàng bằng cách trích một phần vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh khoản và thực hiện dự trữ b t buộc.
Các hoạt động nghiệp vụ khác: bao gồm các hoạt động còn lại của ngân hàng thương mại như thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, thanh toán hóa đơn dịch vụ, cung cấp mạng lưới thanh toán điện t , mua bán chứng khoán, ủy thác đầu tư,… Do các hoạt động trên có mối quan hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau nên buộc các ngân hàng thương mại phải thực hiện tốt các hoạt động đó trong quá trình phát triển của ngân hàng [2]. Khái niệm về cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của các thành phần trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Tùy theo các quan điểm nghiên cứu, mỗi quốc gia, mỗi vùng miền và sự phát triển của hệ thống tài chính mà cạnh tranh có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh.
Theo Mác “Cạnh tranh là sự phấn đấu ganh đua gay g t giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch” [10], có một số quan niệm khác lại cho rằng “Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác” (Theo nhóm tác giả cuốn “Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”). Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà 6 doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980) [12].
Tuy nhiên, theo Gary Hamel cho rằng: Cạnh tranh trong thế giới kinh doanh hiện nay không phải là cuộc chiến giữa các đối thủ tồn tại trong một ngành có ranh giới cấu trúc rõ ràng nhằm phân chia theo mô hình của Porter [13]. Theo kinh tế chính trị học “cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp mình”. Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, giữa các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi mối quan hệ cung - cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất [7]. Nhìn nhận theo góc độ kinh tế thị trường thì cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá, hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
Từ khi nước ta thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thì trên thị trường cũng b t đầu có sự cạnh tranh. Để tồn tại và đứng vững, các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Để một mặt là duy trì tồn tại, mặt khác để phát triển, mở rộng tăng thêm năng lực cạnh tranh, tạo vị thế trên thị trường. Trong hoạt động của các ngân hàng hiện nay cũng vậy, Ngoài việc phải luôn đảm bảo an toàn vốn và tài sản thì bên cạnh đó còn phải luôn thường xuyên đổi mới để kịp thời đáp ứng các yêu cầu mới thị trường, tăng cường tính cạnh tranh.
Khái niệm về lợi thế cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Theo quan điểm của Adam Smith “Lợi thế cạnh tranh dựa trên lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động. Năng suất lao động cao có nghĩa là chi phí sản xuất giảm”. 7 Theo Micheal Porter “Lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hoá sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh” [12]. Như vậy, ta có thể thấy: Lợi thế cạnh tranh là lợi thế mà một doanh nghiệp có được trong khi các doanh nghiệp khác không có được, lợi thế cạnh tranh này có thể nằm ngay bên trong doanh nghiệp hoặc bên ngoài doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Giống như cạnh tranh, năng lực cạnh tranh cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau dựa vào cấp độ hay phạm vi khác nhau. Tiếp cận theo góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước.