CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm về ngân sách Nhà nước Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện chức năng duy trì và phát triển xã hội. Để thực hiện được chức năng này thì Nhà nước cần phải quy định có nguồn thu bắt buộc để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước.
Tuy nhiên việc sử dụng ngân sách Nhà nước cần phải được quản lý một cách đúng quy trình thì mới đạt được hiệu quả cao. Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về ngân sách Nhà nước. Theo Luật ngân sách nhà nước: “Ngân sách nhà nước là tất cả các khoán thu chi nằm trong dự toán của Nhà nước và được thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra”. Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư của Liên Xô (cũ) (1971) cho rằng: “Ngân sách là toàn bộ bảng liệt kê các khoản thu và chi bằng tiền của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định; hay là toàn bộ các kế hoạch thu, chi bằng tiền của bất kỳ một tổ chức nào đó và trong một thời gian nhất định”.
Còn theo từ điển của Tài chính thuộc Viện nghiên cứu Tài chính cho rằng: “Ngân sách được hiểu là toàn bộ dự toán và thực hiện các khoản thu và chi của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong một giai đoạn nhất định”. Theo bộ luật mới nhất được ban hành về ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 vào ngày 25/6/2015: “ Ngân sách nhà nước là một thành phần trong hệ thống tài chính, là thành tố có vai trò quan trọng thức đẩy mục tiêu phát triển đất nước và các công trình trọng điểm nhằm đảm bảo tính hiệu quả và hiệu lực trong quản lý Nhà nước, thông qua ngân sách Nhà nướ giúp các nhà quản lý cấp cơ sở có thể chủ động và trực tiếp quản lý kinh tế xã hội trong phạm vi cỉa mình”. 4 Qua đó có thể hiểu rằng: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê toàn bộ các khoản thu và chi bằng tiền của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Ngân sách nhà nước là bản cân đối thu chi của Nhà nước bằng tiền mặt, lé bản kế hoạch tài chính của một quốc gia và là quỹ tiền tệ tập trung.
Hệ thống tài chính quốc gia gồm các khoản thu: - Các khoản thu chủ yếu từ thuế, phí, lệ phí - Các khoản thu từ các hoạt động kinh doanh của các DNNN - Thu từ các khoản đóng góp tự nguyện của các cá nhân và tổ chức. - Các khoản mà Chính phủ đi vay. - Các khoản viện trợ từ trong và ngoài nước hay các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chức năng của ngân sách Nhà nước Thứ nhất là Nhà nước thực hiện chức năng phân cấp ngân sách.
Ngân sách nhà nước được phân cấp từ Trung ương đến địa phương với các tỷ lệ khác nhau nhằm đảm bảo sự quản lý khác nhau tại các cấp. Hơn nữa khi phân bổ ngân sách theo tỷ lệ giữa các địa phương giữa việc thu chi ngân sách sẽ đảm bảo được sự cạnh tranh và tính công bằng trong phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương. Thứ hai là Nhà nước có quyền kiểm tra, giám sát tất cả các nghiệp vụ và các công tác liên quan đến Ngân sách nhà nước. Việc kiểm tra này được tiến hành thường xuyên và liên tục để hạn chế việc sử dụng ngân sách sai mục đích và tránh việc tham nhũng ngân sách.
Qua việc kiểm toán ngân sách, Nhà nước nắm bắt được các thông tin trong quản lý Nhà nước để xử lý những vấn đề kinh tế xã hội kịp thời, định hướng các địa phương sử dụng ngân sách hợp lý, tiến tới mục tiêu quan trọng mà Đảng và Nhà nước xác định. Vai trò của ngân sách nhà nước Vai trò của ngân sách Nhà nước được thực hiện ở các thời kỳ khác nhau thì sẽ là khác nhau. NSNN là công cụ huy động các nguồn tài chính ở các thời kỳ khác nhau và đảm bảo cho hoạt động chi tiêu của Nhà nước phục 5 vụ cho sự phát triển KTXH của đất nước. NSNN là nguồn lực để Nhà nước có thể tồn tại, nó giữ một vai trò rất quan trọng trong việc phân phối các nguồn lực tài chính để Nhà nước bảo đảm việc thực thi các chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua các công cụ quản lý Nhà nước như các chính sách thuế, các chính sách tài khóa, tiền tệ.
Trong đó nguồn thu chủ yếu của NSNN là thuế. Thuế là nguồn thu chính trong NSNN, là một khoản thu mang tính chất bắt buộc và được Nhà nước thông qua hệ thống luật pháp đồng thời là khoản thu không hoàn trả. Nhưng mục tiêu tối cao của Nhà nước sẽ phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội nên Nhà nước sẽ thông qua công cụ này phân phối lại thu nhập đảm bảo tính công bằng thông qua các quan hệ phân phối do Nhà nước thực hiện. Ngoài thuế, phí,.
NSNN còn động viên các nguồn tài chính khác dưới hình thức nợ công như: phát hành công trái (trái phiếu hay tín dụng nhà nước), vay nợ nước ngoài (ODA) và tín dụng quốc tế (IMF, WB, ADB,. Để đảm bảo nguồn thu cần thiết cho NSNN , thuế, phí thường được ấn định từ 22 – 25%/GDP trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa ở Việt Nam và mức động viên này có thể được gia tăng cùng với quá trình phát triển. Điều tiết vĩ mô được thực hiện thông qua một hệ thống các công cụ như: chiến lược, kế hoạch (định hướng và hướng dẫn), pháp luật (điều tiết hành vi) và các công cụ kinh tế tài chính (thuế, lãi suất tín dụng, chiết khấu. Trong lĩnh vực tài chính, NSNN giữ vai trò rất quan trọng thông qua chính sách động viên các nguồn lực tài chính và đầu tư phát triển.
Phân cấp quản lý NSNN Hệ thống quản lý ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay được phân chia thành hai cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Và việc phân cấp ngân sách được Nhà nước cụ thể hóa thông qua bộ Luật NSNN. Tại Luật NSNN xác định rõ phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương trong quá trình phân bổ và sử dụng ngân 6 sách. Đây là cách tốt nhất để gắn các hoạt động kinh tế xã hội tại địa phương với hoạt động thu chi ngân sách và quản lý sử dụng ngân sách nhằm giúp các địa phương chủ động thực hiện các hoạt động quản lý trong phạm vi của địa phương.
Mỗi cấp, chính quyền khi nhận phân bổ ngân sách cần đảm bảo bằng nguồn tài chính nhất định để chi tiêu hiệu quả và hợp lý, phục vụ cho các mục tiêu hoạch định chiến lược kinh tế xã hội tại địa phương, đáp ứng tính tự chủ, tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý Nhà nước. Nội dung thu – chi NSNN 1. Đối với thu NSNN Thu NSNN là hoạt động mang tính bắt buộc thông qua các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí. Trong đó nguồn thu từ thuế chiếm một tỷ trọng thu lớn trong NSNN.
Bản chất của thu NSNN là tiền hành thu mang tính chất bắt buộc để đảm bảo chi trong hệ thống NSNN, phục vụ cho các mục tiêu quốc gia. Tuy nhiên ở các giai đoạn các nhau thì mức độ quy định hay phân bổ nguồn dự ngân sách cho các cấp, các ngành sẽ là khác nhau và trong một giai đoạn nhất định Nguồn thu NSNN được phân chia thành hai loại: Một là nguồn thu cố định cho các cấp ngân sách và hai là nguồn thu được phân chia theo tỷ lệ giữa các cấp ngân sách. Những nguồn thu được coi là cố định thì thường là những nguồn thu cố định từ ngân sách địa phương, đây là những nguồn thu ít biến động và tương đối nhỏ so với NSNN còn các nguồn thu lớn gắn liền với sự điều hành nền kinh tế vĩ mô nên những nguồn thu này biến động lớn. Các nguồn thu NSNN địa phương bao gồm: Các nguồn thu được hưởng 100%.
Các nguồn thu theo tỷ lệ % giữa các cấp ngân sách như: Thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế môn bài, thuế trước bạ, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt. Mỗi địa phương ở các cấp phân chia tỷ lệ phần trăm theo địa phương từ cấp phường xã, quận (huyện), đến các cấp tỉnh, thành phố và trung ương. Đối với chi ngân sách Nhà nước 7 Chi NSNN là việc liệt kê các khoản mục cần sử dụng của Nhà nước được các cơ quan quản lý hoạch định trong các khoản chi phục vụ cho mục tiêu phát triển của đấy nước và nhằm duy trì bộ máy quản lý. Bản chất của chi NSNN là thực hiện các khoản chi có lợi ích cho đất nước bao gồm chi thường xuyên hay chi cho đầu tư phát triển, chi cho quốc phòng an ninh, chi dự phòng, chi duy trì bộ máy Nhà nước, chi cho việc trả nợ và các khoản chi khác.
Cụ thể các khoản chi Nhà nước được tiến hành chi như sau: - Chi cho đầu tư phát triển: Nhà nước thực hiện chi NSNN cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, các trụ sở,các công trình trọng điểm của Nhà nước nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế và thu hút các Nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các khoản chi này có lợi trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội trong nước. - Các khoản chi duy trì bộ máy Nhà nước: Để tiến hành quản lý Nhà nước, Nhà nước xây dựng bộ máy từ TW đến địa phương. Và bộ máy này hoạt động với hệ thống tinh giản, gọn nhẹ, mang tính hệ thống và khoa học.
Tuy nhiên Nhà nước chi cho hoạt động này trên quan điểm tiết kiệm toàn diện và cũng tổ chức lao động khoa học cho các cán bộ công chức, viên chức nhằm định biên, chấn chỉnh bộ máy và quỹ lương. - Chi cho hoạt động quốc phòng an ninh để bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền của Tổ quốc. Nhà nước sử dụng NSNN để trang bị các trang thiết bị quân sự, an nin. - Chi cho các mục tiêu văn hóa xã hội như các chính sách, các chương trình mục tiêu bảo tồn các di sản văn hóa, chi cho giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, chi cho y tế.
- Chi cho việc trả nợ nước ngoài - Các khoản chi dự phòng rủi ro về tài chính khi có thiên tai dịch bệnh xảy ra có nguồn quỹ để khắc phục.