Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận trong đó phần nội dung của khóa luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tín dụng và chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh quận Kiến An, TP.Hải Phòng. Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng [16], [24], [25] 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế. Vì vậy tín dụng đƣợc rất nhiều nhà kinh tế học đề cập đến và đã có nhiều khái niệm về tín dụng đƣợc đƣa ra.
Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận” Theo khái niệm trên có thể hiểu tín dụng bao gồm hai yếu tố căn bản: Thứ nhất, ngƣời sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho ngƣời khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định Thứ hai, ngƣời sử dụng cam kết sẽ hoàn trả lại số tiền hoặc hàng hóa đó cho ngƣời sở hữu với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và phần chênh lệch lớn hơn đó gọi là lợi tức hay tiền lãi. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên đƣợc những bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng. Tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là quan hệ vay mƣợn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng và các NHTM khác. Nhƣ đã phân tích tín dụng là quan hệ vay mƣợn gồm cả cho vay và đi vay.
Tuy nhiên nói đến tín dụng ngân hàng (hoặc các trung gian khác) thì chỉ bao hàm ý nghĩa là ngân hàng cho vay (tức là không nghiên cứu tới phần huy 4 động vốn tại các ngân hàng thƣơng mại). Và trong khuôn khổ có hạn của luận văn này xin đƣợc phân tích tín dụng ngân hàng với ý nghĩa nhƣ vậy. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Nhƣ vậy, quan hệ tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển quyền sử dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng - Sự chuyển nhƣợng này mang tính tạm thời hay có thời hạn.
- Sự chuyển nhƣợng này có kèm theo chi phí. Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 ghi “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nhƣ vậy có thể hiểu rằng, tín dụng bao gồm 4 hình thức chính là: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá và cho thuê tài chính. Cụ thể từng hình thức tín dụng này sẽ đƣợc nêu trong phần phân loại tín dụng ngân hàng.
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Theo phân tích các khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng ở trên có thể thấy một số đặc trƣng của tín dụng ngân hàng nhƣ sau: - Sự chuyển nhƣợng vốn từ ngân hàng sang khách hàng dựa trên cơ sở lòng tin. - Thời gian chuyển nhƣợng vốn là có hạn và đƣợc xác định rõ khi cho vay. Ngân hàng xác định thời hạn cho vay chủ yếu dựa vào chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng. - Tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng có một nguyên tắc là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.
Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng. Đối với các ngân hàng, nguyên tắc này càng quan trọng vì ngân hàng về bản chất là một doanh nghiệp kinh doanh vốn. Phân loại tín dụng ngân hàng [2], [17], [25] Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Ngƣời ta thƣờng phân loại theo một số tiêu thức sau: 1.
Phân loại theo thời hạn tín dụng Theo tiêu thức này tín dụng đƣợc phân thành 3 loại sau: a) Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và đƣợc cấp cho các hoạt động bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của các cá nhân. b) Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng và chủ yếu cấp cho các hoạt động mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. c) Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, đƣợc cấp cho xây dựng cơ bản, đâu tƣ xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Với hoạt động cho vay, thời hạn cho vay đƣợc quy định trong Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc là “khoảng thời gian đƣợc tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã đƣợc thỏa thuận trong họp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng”.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Cách phân loại này còn đƣợc gọi là phân loại theo mức độ bảo đảm tiền vay hay cụ thể hơn là phân loại theo tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm là tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của ngƣời thứ ba mà ngƣời này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tƣơng lai và đƣợc phép giao dịch. Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có đƣợc nguồn 6 thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất từ quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh không đủ hoàn trả. Theo cách phân loại này tín dụng đƣợc chia thành 2 loại: a) Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố các tài sản bảo đảm của chính khách hàng hoặc của ngƣời thứ ba sẵn sàng dùng tài sản của mình cam kết bảo đảm cho khoản tín dụng của khách hàng.
b) Tín dụng không có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp của ngƣời vay hoặc của ngƣời thứ ba. Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Phân loại theo nghiệp vụ tín dụng (hình thức cấp tín dụng) Theo cách phân loại này tín dụng bao gồm hình thức là: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cụ thể: a) Cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay là nghiệp vụ cơ bản và truyền thống của tín dụng. Hoạt động cho vay tại nhiều ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng và mang lại lợi nhuận khá cao cho các NHTM. b) Chiết khấu Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lƣu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán. Theo quy định trong Thông tƣ số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013, các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá đƣợc chiết khấu bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các loại công cụ chuyển nhƣợng khác 7 đƣợc chiết khấu theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, các ngân hàng thƣờng nhận chiết khấu hai loại chứng từ cơ bản: thƣơng phiếu và chứng từ có giá khác nhƣ trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu Kho bạc Nhà nƣớc, sổ tiết kiệm. c) Cho thuê tài chính Cho thuê tài chính của ngân hàng còn đƣợc gọi là cho thuê tài sản là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phƣơng tiên vận chuyển và các động sản khác (gọi là tài sản cho thuê) trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa Bên cho thuê là các ngân hàng và Bên thuê là khách hàng của ngân hàng. Bên cho thuê tức Ngân hàng cam kết mua các tài sản theo yêu cầu của khách hàng và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê trong suốt quá trình thuê. Bên thuê đƣợc sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã đƣợc hai bên thoả thuận và không đƣợc hủy bỏ hợp đồng thuê trƣớc thời hạn.
Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê đƣợc chuyển quyền sở hữu bằng cách mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã đƣợc hai bên thoả thuận. d) Bao thanh toán Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại có bảo lƣu quyền truy đòi các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã đƣợc bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hoá.