CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH HẢI QUAN 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực, nguồn nhân lực ngành Hải quan 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực ngành Hải quan Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau khi tìm hiểu về NNL. Theo Liên Hiệp Quốc “NNL là tổng hợp tất cả những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, tính sáng tạo và năng lực của một con người có liên quan đến sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [11].
Theo Ngân hàng thế giới thì “NNL là toàn bộ vốn của con người bao hàm các mặt như: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề… của mỗi cá nhân” [11]. Nguồn lực được hiểu một cách chung nhất là khả năng cung cấp các yếu tố cần thiết được huy động cho sự phát triển KTXH của một đất Nước. Đó là những nguồn lực vật chất như nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài nguyên khoáng sản, nguồn lực tài chính, nguồn lực con người. Nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau phụ thuộc vào các góc độ nghiên cứu.
Theo khái niệm rộng NNL chỉ con người với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, không bị khiếm khuyết và dị tật bẩm sinh. NNL trong khái niệm này được hiểu là một bộ phận dân số phát triển bình thường. Theo khái niệm hẹp thì NNL là tổng hợp cá nhân con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu như vậy NNL bao gồm những người từ giới hạn độ tuổi lao động trở lên.
Có một cách hiểu hẹp hơn nữa về NNL là yếu tố của sự phát triển KTXH, là khả năng lao động của xã hội bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động. Cách nhìn này cho thấy NNL chính là nguồn lao động và nguồn lao động sẽ bao gồm dân số trong độ tuổi lao động. 5 Ngành Hải quan là một cơ quan QLNN. Cán bộ Hải quan nói chung (bao gồm công chức, viên chức, NLĐ đang hoạt động trong các đơn vị thuộc và trực thuộc ngành Hải quan) là những người thực hiện các nhiệm vụ đó.
Công việc của cán bộ Hải quan là kiểm tra, làm thủ tục thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu qua đó đảm bảo tính hợp pháp và sự luân chuyển của hàng hóa theo quy định của pháp luật đồng thời góp phần giúp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không bị ùn tắc. Từ các quan điểm và các cách tiếp cận trên, tác giả có thể rút ra một nhận định chung về NNL Hải quan là tập hợp những con người đang công tác và chịu sự quản lý của ngành Hải quan, họ dùng kiến thức, kỹ năng chuyên môn, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để đáp ứng việc thực hiện các nhiệm vụ trong ngành Hải quan. Đặc điểm nguồn nhân lực Hải quan - NNL Hải quan là NNL có chất lượng cao, vừa phải am hiểu sâu về trình độ chuyên môn ở vị trí mình công tác, vừa phải đáp ứng được những nhu cầu đa dạng về nhiệm vụ. - NNL hải quan phải nắm chắc pháp luật của Nhà nước về hải quan, nắm chắc về luật hàng hóa XNK và luật về thuế XNK.
“Nhiệm vụ cơ bản nhất của Hải quan đó là tổ chức thực hiện các thủ tục trong ngành Hải quan, thực hiện việc kiểm tra giám sát đối với hàng hoá XNK. Từ đó, nhân lực Hải quan phải nắm bắt và hiểu rất chắc pháp luật về Hải quan” [3]. - NNL hải quan có tính chuyên nghiệp, trình độ cao để có thể ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới, sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại. “Hiện nay, hệ thống thông quan điện tử mà Việt Nam đang sử dụng giúp cho việc rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa XNK, đòi hỏi CBCC hải quan phải có kỹ năng về công nghệ thông tin cao, sử dụng thành thạo” [3].
- NNL là NNL có thể lực và tinh thần tốt do đặc điểm của một số lực lượng Hải quan thường xuyên hoạt động ở khu vực biên giới, hải đảo, nơi có địa bàn phức tạp đi lại khó khăn và phải thường xuyên đấu tranh với các đối 6 tượng buôn lậu tinh vi. Vì vậy, đòi hỏi CBCC hải quan phải có tư duy, thể lực, sức khỏe và tinh thần tốt mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ được giao. - NNL hải quan còn có lập trường, tư tưởng vững vàng để không bị sa ngã trước những cám dỗ, do thường xuyên phải tiếp xúc với tiền, hàng và các lợi ích khác do các đối tượng buôn lậu đưa ra. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực, nguồn nhân lực ngành Hải quan Hiện nay, phần lớn nội dung các công việc trong tổ chức đều do con người hoạch định, đảm nhiệm.
Vậy nên, chất lượng NNL của tổ chức là yếu tố tiền đề quyết định đến chất lượng các hoạt động trong tổ chức. Theo Đỗ Văn Phức thì: “Chất lượng NNL là yếu tố tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống tinh thần của nguồn nhân lực. Nói cách khác, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thái độ làm việc… thể hiện chất lượng NNL” [11]. Theo tác giả Bùi Văn Nhơn: “Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.
Đó là yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của NLĐ trong quá trình làm việc” [12]. Nói đến NNL là đề cập đến các khía cạnh: - Về số lượng NNL: Khi nói đến nhân lực của bất kỳ một tổ chức, địa phương, hay quốc gia nào điều quan trọng là việc xác định số lượng NNL hiện tại và dự đoán sự gia tăng trong tương lai, nói cách khác đây là việc xác định quy mô nhân lực. Sự phát triển về số lượng NNL dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; - Về chất lượng NNL: Chất lượng NNL là khái niệm dùng để chỉ con người khi tham gia vào các hình thức sản xuất nào đó trong xã hội. Người lao 7 động có thể qua đào tạo và không qua đào tạo hoặc chưa qua đào tạo; có thể là những lao động giản đơn hoặc lao động phức tạp.
NNL bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. NNL gồm nhiều yếu tố bộ phận như: Trình độ, nhận thức, tri thức, trí tuệ, hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… Trong đó các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng NNL. - Về cơ cấu nhân lực: Cơ cấu NNL thể hiện trên các phương diện về: Độ tuổi, giới tính… Cơ cấu nhân lực của một đất nước được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỉ lệ nhân lực nhất định. Có thể thấy, “chất lượng NNL” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá nguồn lực con người của một cơ quan, tổ chức.
Từ đó, tác giả có thể tóm lược lại: Chất lượng NNL ngành hải quan được hiểu là mức độ đáp ứng yêu cầu trong công việc được đánh giá ở ba phương diện về thể lực, trí lực, tâm lực của CBCC hải quan. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Hải quan 1. Khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Hải quan Nâng cao chất lượng NNL là việc phát triển các tiềm năng của NLĐ. Muốn đạt được mục tiêu này, các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng NLĐ trong quá trình làm việc cũng như sử dụng, khai thác các tiềm năng của NLĐ một cách hợp lý.
Đồng thời các cơ quan, tổ chức, đơn vi phải tạo điều kiện môi trường làm việc thuận lợi, đầy đủ vật chất, trang thiết bị hiện đại; xây dựng môi trường văn hóa DN văn minh, lịch sự; khuyến khích, động viên NLĐ, phát huy hết khả năng của bản thân để có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị muốn phát triển một cách bền vững thì đòi hỏi cơ quan, tổ chức, đơn vị đó có đội ngũ nhân lực dồi dào với chất 8 lượng tốt. Điều này đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xây dựng và triển khai thực hiện các biện pháp, chính sách nhân lực một cách hiệu quả, hợp lý. NLĐ sau khi được tuyển dụng hoặc đào tạo, bồi dưỡng thì cần bố trí, sắp xếp nhân lực một cách hợp lý, khoa học, phù hợp với chuyên môn, nguyện vọng của NLĐ thì mới có thể mang lại cho DN nhiều thành công vang dội.
Có thể hiểu rằng: “Nâng cao chất lượng NNL trong ngành Hải quan chính là nâng cao mức độ đáp ứng của NLĐ với yêu cầu cụ thể của công việc trên các phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực nhằm đạt được các mục tiêu chung của ngành Hải quan” [10]. Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Hải quan 1. Tuyển dụng và bố trí nhân lực hải quan - Tuyển dụng nhân lực: “là quá trình tìm kiếm, tuyển chọn nhân sự từ nhiều nguồn khác nhau để tìm ra những nhân sự đủ khả năng, trình độ đáp ứng được yêu cầu về công việc trong ngành hải quan” [10]. Tuyển dụng giúp ngành hải quan giải quyết yếu tố đầu vào về nhân sự, từ đó thực thi nhiệm vụ trong ngành hải quan được hiệu quả hơn.
Tuyển dụng trong ngành hải quan bao gồm hai hình thức là thi tuyển và xét tuyển. Công tác tuyển dụng trong ngành hải quan được tuân thủ theo Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ. Căn cứ nhu cầu về nhiệm vụ, vị trí làm việc, số lượng cần tuyển để xác định các chỉ tiêu tuyển dụng. Tuyển dụng trong ngành hải quan cần đảm bảo nguyên tắc như: công khai, minh bạch, đúng đối tượng, có sự cạnh tranh, ưu tiên người có tài có đức, người có công, là các đối tượng dân tộc thiểu số.
Công tác tuyển dụng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng CBCC trong ngành hải quan.